Currency Wars (Chiến Tranh Tiền Tệ)

Tên Sách: Currency Wars (Chiến Tranh Tiền Tệ)
Tác Giả:Tống Hồng Binh (Song Hongbing)
Nhà Xuất Bản: NXB Trẻ

Giới thiệu (tổng hợp từ nhiều nguồn)

Image

Xuất bản vào mùa hè vừa qua tại Bắc Kinh, cuốn sách nhỏ Chiến tranh tiền tệ (Currency Wars) của một nhà nghiên cứu kinh tế trẻ người Trung Quốc nhập cư sang Mỹ dưới cái tên Song Hongbing, khiến dư luận khắp thế giới sửng sốt.

Không chỉ thế, nó còn khiến cả Trung Quốc xôn xao và trở thành một “kỷ lục xuất bản trong năm” của Trung Quốc…, chỉ sau Harry Potter VII, tập cuối cùng trong bộ truyện được đọc nhiều nhất trên thế giới!

“Cuộc chiến tranh tiền tệ” đề cập đến một cuộc chiến khốc liệt, không khoan nhượng và dai dẳng giữa một nhóm nhỏ các ông trùm tài chính – đứng đầu là gia tộc Rothschild – với các thể chế tài chính kinh tế của nhiều quốc gia. Đó là một cuộc chiến mà đồng tiền là súng đạn và mức sát thương thật là ghê gớm.

“Cuộc chiến tranh tiền tệ” giúp chúng ta hiểu nhiều điều, rằng Bill Gates chưa phải là người giàu nhất hành tinh, rằng tỉ lệ tử vong của các tổng thống Mỹ lại cao hơn tỉ lệ tử trận của binh lính Mỹ trong chiến dịch Normandie, vì sao Phố Wall lại mạo hiểm đổ hết vốn liếng của mình cho việc “đầu tư” vào Hitler.

Xâu chuỗi những sự kiện đã xảy ra từ sự tan vỡ của Liên Xô, sự sụt giá của đồng rúp, cuộc khủng hoảng tài chính của các con rồng châu Á hay vụ phá sản tài chính ở Nhật Bản…, tác giả đặt câu hỏi: Những cuộc khủng hoảng đó là do tình cờ của lịch sử hay là do một bàn tay nào đang “đạo diễn” từ sau bức màn sân khấu? Và nếu có như vậy thì bàn tay ấy là của ai?

Ngày nay, Bill Gates vẫn được giới truyền thông không ngừng ca tụng và được coi là người đàn ông giàu nhất hành tinh với khối tài sản khổng lồ. Nếu tin rằng đó là sự thật thì có nghĩa là bạn đã bị lừa dối. Bởi vì bạn sẽ chẳng bao giờ tìm thấy được bóng dáng của các ông trùm thật sự giàu có trên bảng xếp hạng những người giàu nhất hành tinh này, còn giới truyền thông phương Tây thì đã bị những thế lực “vô hình” của các ông trùm kia khóa miệng.

Nhóm tài phiệt ngân hàng này đã tạo ra một cơ chế kiểm soát nguồn cung ứng tiền tệ xuyên quốc gia, thực hiện các chính sách bơm tiền vào các nền kinh tế đang tăng trưởng để rồi chích nổ quả bong bóng kinh tế để thu lợi. Nguồn tài sản họ thu được có thể là dầu khí, bất động sản, nền công nghiệp quốc phòng, đất nông nghiệp…Tất cả có thể được quy đổi thành vàng hay tiền mặt tùy theo vận trù của họ. Kết quả là sau mỗi lần “xén lông cừu”, các nhà tài phiệt này lại giàu có hơn, uy lực càng ngày càng được củng cố hơn trên thì trường tài chính quốc tế.

Cho đến ngày nay, gia tộc Rothschild vẫn theo đuổi ngành ngân hàng, nhưng nếu bất chợt hỏi 100 người dân ở Sài Gòn hay Hà Nội, bạn sẽ thấy rằng, có đến 101 người biết rất rõ về Ngân hàng Hoa Kỳ trong khi chẳng một ai biết được ngân hàng Rothschild là ngân hàng nào. Rốt cuộc, vậy ai là Rothschild? Nếu một người làm việc trong ngành tài chính mà chưa từng nghe đến cái tên Rothschild thì chẳng khác nào một người lính không biết Napoleon, sinh viên ngành vật lý không biết Einstein là ai vậy. Cái tên Rothschild hết sức xa lạ đối với đa số người dân Việt Nam, tuy nhiên, gia tộc này có một sức ảnh hưởng rất lớn đối với quá khứ, hiện tại và tương lai của người dân khắp nơi trên thế giới. Thông qua sự đối lập giữa tầm ảnh hưởng và mức độc nổi tiếng của của gia tộc Rothschild đối với thế giới hiện tại, ta có thể thấy khả năng giấu mình của dòng họ này cao siêu đến mức nào. Rốt cuộc thì dòng họ Rothschild có bao nhiêu tài sản? Đây vẫn là điều bí mật của thế giới. Theo tính toán sơ bộ thì con số đó là vào khoảng 500 tỉ USD! Vậy bằng cách nào mà dòng họ Rothschild đã kiếm được khoản tài sản khổng lồ như vậy? Đây là câu chuyện mà cuốn “Chiến tranh tiền tệ” sẽ giãi bày cùng bạn.

Tìm hiểu lịch sử đồng đô-la Mỹ qua Chiến Tranh Tiền Tệ

US Dollar – Đồng đô-la Mỹ, tuy chỉ là đồng tiền quốc gia, nhưng lại có sức ảnh hưởng lớn nhất đối với nền kinh tế toàn cầu, không khác gì đồng tiền thế giới. Cho đến nay, đồng đô-la Mỹ vẫn được Tổ chức các nước xuất khẩu dầu hỏa (OPEC) quy ước là đồng tiền duy nhất dùng để kết toán các giao dịch dầu hỏa. Chính phủ nhiều nước trên thế giới vẫn chọn đồng tiền này là dự trữ ngoại tệ chủ yếu. Tỷ giá hoái đối của đồng tiền này được theo dõi hàng ngày để kịp thời điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô sao cho thích hợp nhất nhằm giảm thiểu tối đa thiệt hại cho nguồn dự trữ quốc gia, hàng hóa xuất khẩu,… Và cũng không mấy ai có khả năng đứng ngoài cuộc trước những thay đổi của đồng đô-la Mỹ.

Tuy nhiên, rất ít người trong chúng ta biết được lịch sử hàng trăm năm hình thành cũng như quá trình sinh tồn và phát triển của đồng đô-la Mỹ. Và vì sao mà đồng tiền này lại có giá trị và sức ảnh hưởng lớn đến như vậy.

Việc tìm hiểu lịch sử đồng đô-la Mỹ sẽ cung cấp cho chúng ta một cái nhìn đầy đủ hơn về thị trường tiền tệ, nhiều vấn đề tồn tại của nền kinh tế toàn cầu, và những sự kiện lớn của lịch thế giới cận đại. Phơi bày ra nhiều sự thật mà chúng ta khó lòng tưởng tượng ra.

Sự ra đời của đồng tiền đầu tiên trên đất Mỹ

Đa số người Anh đến Mỹ mưu sinh sớm nhất chính là những “người cùng khổ”. Trong cuộc hành trình đến miền đất mới, ngoài những hành lý đơn giản mang theo, hầu như họ chẳng có tiền bạc hay tài sản gì đáng giá. Thời đó, những mỏ vàng bạc ở miền bắc nước Mỹ vẫn chưa được khám phá, nên nguồn tiền tệ lưu thông cực kỳ thiếu hụt. Thêm vào đó là tỷ lệ nhập siêu từ Vương quốc Anh đã khiến cho lượng tiền ít ỏi ở Mỹ cũng chảy ngược về “xứ sở sương mù”. Tình trạng thâm hụt lượng tiền lưu thông vì thế mà càng thêm trầm trọng.

Vì lý do đó hàng hóa do những người Mỹ di cư làm ra đã không thể được trao đổi hiệu quả do thiếu tiền lưu thông, gây sự cản trở nghiêm trọng đến sự phát triển của nền kinh tế. Người ta đã phải dùng đến các loại hàng hóa được chấp nhận ở mức độ cao như một đồng tiền và đều lấy đồng bảng Anh làm tiêu chuẩn tính toán. Ở mức độ nào đó, chúng đã cứu vãn được tình trạng thâm hụt tiền lưu thông đang trở nên cấp bách, nhưng cũng không thể đáp ứng được những đòi hỏi về sau của nền kinh tế hàng hóa ngày một phát triển.

Sự thiếu hụt tiền kim loại trong thời gian dài và sự bất tiện trong việc sử dụng các loại tiền hiện vật thay thế đã thúc đẩy Chính phủ thuộc địa thoát ra khỏi lối tư duy truyền thống để bắt đầu một thử nghiệm hoàn toàn mới: dùng loại giấy Colonial Scrip để in tiền – loại tiền chuẩn được pháp luật quy định. Sự khác biệt lớn nhất giữa loại tiền giấy này so với chi phiếu ngân hàng châu Âu đang lưu hành lúc bấy giờ là nó không có bất cứ khoản hiện vật (vàng hay bạc) nào bảo đảm mà chỉ là một loại tiền tín dụng Chính phủ. Mọi người trong xã hội đều cần phải đóng thuế cho Chính phủ, nên chỉ cần Chính phủ tiếp nhận loại tiền giấy này như bằng chứng của việc nộp thuế, thì nó đã có được yếu tố cơ bản để lưu thông trên thị trường.

Loại tiền tệ mới này quả nhiên đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, các giao dịch hàng hóa cũng ngày càng trở nên nhộn nhịp.

Năm 1763, Benjamin Franklin vi hành đến Vương quốc Anh. Khi được vị chủ tịch của Ngân hàng Anh hỏi về nguyên nhân phát triển thịnh vượng của thuộc địa ở châu lục mới, Franklin đã trả lời rằng: “Điều này rất đơn giản. Ở thuộc địa, chúng tôi phát hành tiền tệ của riêng mình, gọi là ‘chứng chỉ thuộc địa’. Chúng tôi căn cứ vào nhu cầu của thương nghiệp và công nghiệp để phát hành một lượng tiền tệ cân đối, như vậy, sản phẩm rất dễ dàng chuyển từ tay người sản xuất đến tay người tiêu dùng. Dùng phương thức này, chúng tôi tạo ra loại tiền giấy của riêng mình, đồng thời bảo đảm sức mua của nó, và Chính phủ của chúng tôi không cần phải trả lợi tức cho bất kỳ ai”.

Cuộc chiến giành độc lập của nước Mỹ

Loại tiền tệ này tất nhiên sẽ giúp cho thuộc địa châu Mỹ thoát ly khỏi sự khống chế của Ngân hàng Anh. Nhưng một loại tiền tệ không có thế chấp là kẻ thù tự nhiên của các ngân hàng, bởi vì nếu Chính phủ không cần phải vay các khoản tiền kim loại vốn rất thiếu hụt thời bấy giờ, thì ngân hàng sẽ không có sự thế chấp từ các khoản vay của Chính phủ, và như vậy, quyền lực lớn nhất của ngân hàng là quyền phát hành tiền tệ dựa trên sự thế chấp từ các khoản vay của Chính phủ cũng mất đi trong chốc lát, lợi tức từ các khoản vai của Chính phủ đương nhiên cũng không tồn tại.

Các ngân hành Anh tỏ ra phẩn nộ và bắt tay nhau hành động. Dưới sự khống chế của các nhà tài phiệt, vào năm 1764, Nghị viện Anh đã thông qua “Đạo luật tiền tệ” (Currency Act), theo đó, Nghị viện nghiêm cấm các bang trong thuộc địa châu Mỹ in ấn và phát hành tiền giấy của riêng mình, đồng thời yêu cầu Chính phủ các nơi này phải sử dụng toàn bộ vàng và bạc để đóng những khoản thuế cho Chính phủ Anh.

Franklin đã nhận xét một cách đau đớn về hậu quả kinh tế nghiêm trọng do đạo luật này mạng lại như sau:

“Chỉ trong một năm, tình hình [thuộc địa] đã hoàn toàn đảo ngược, thời kỳ phồn thịnh đã kết thúc, kinh tế suy thoái nghiêm trọng đến mức từ đường phố cho đến bến cảng đều tràn ngập những đám người thất nghiệp.

Nếu như Ngân hàng Anh không tước đoạt quyền phát hành tiền tệ của xứ thuộc địa, thì người dân của xứ này sẽ vui vẽ đóng các khoản thuế trà và các sản phẩm khác. Đạo luật này đã gây nên tình trạng thất nghiệp và sự bất mãn. Xứ thuộc địa không thể phát hành được tiền tệ của mình, từ đó sẽ không thể thoát khỏi sự khống chế của George III và Ngân hàng Thế giới một cách vĩnh viễn. Và nó trở thành nguyên nhân chủ yếu gây ra cuộc chiến tranh độc lập ở Mỹ.”

Những người đặt nền móng xây dựng nên Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã sớm nhận thức được sự khống chế của Ngân hàng Anh đối với nền chính trị của Anh cũng như sự bất công đối với người dân. Người hoàn thành bản “Tuyên ngôn Độc lập” nổi tiếng của Mỹ khi chỉ mới 33 tuổi chính là Thomas Jefferson – Tổng thống thứ ba của nước Mỹ – với một câu cảnh báo người dân Mỹ rằng:

“Nếu cuối cùng người dân Mỹ để cho ngân hàng tư nhân khống chế được quyền phát hành tiền tệ của quốc gia thì những ngân hàng này trước hết sẽ thông qua việc tăng lạm phát tiền tệ, sau đó thông qua việc thắt chặt tiền tệ để tước đoạt tài sản của người dân, cho đến một ngày, khi con cái của họ thức tỉnh, thì họ đã mất đi nhà cửa vườn tược của mình và miền đất mà cha ông họ đã từng khẩn hoang khai phá.”

Sau hơn 200, kể từ khi câu nói của Jefferson được phát ngôn từ năm 1791, người ta vẫn không khỏi kinh ngạc trước sự chính xác kinh người trong lời nói đó. Ngày nay, các ngân hàng tư nhân quả nhiên đã phát hành đến 97% lượng tiền của nước Mỹ, người dân Mỹ cũng mắc nợ ngân hàng với khoản tiền lên đến 44.000 tỷ đô-la Mỹ. Và có lẽ, một ngày nào đó khi tỉnh dậy, họ sẽ thấy rằng mình đã mất đi nhà cửa và tài sản, giống như những gì đã xảy ra vào năm 1929. Và cũng không khác mấy với những gì đang diễn ra hiện nay.

Sớm nhận biết được điều đó, những người dẫn đường vĩ đại của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã viết ra một cách rõ ràng trong mục 8 chương 1 Hiến pháp của nước Mỹ rằng: “Quốc hội có quyền in và quy định giá trị của đồng tiền quốc gia.”

Và kể từ đây cuộc chiến không khoan nhượng dành quyền phát hành tiền tệ được bắt đầu giữa Chính phủ Mỹ và các thế lực tài chính quốc tế.

Ngân hàng đầu tiên của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

Năm 1789, Tổng thống Washington bổ nhiệm Hamilton làm Bộ trưởng đầu tiên của Bộ tài chính Mỹ, chịu trách nhiệm về hệ thống ngân hàng trung ương. Năm 1790, trước những khó khăn kinh tế và các khủng hoảng nợ nần sau cuộc chiến tranh dành độc lập, Hamilton kiên quyết đề nghị Quốc hội thành lập một ngân hàng trung ương tư nhân kiểu như ngân hàng Anh (tư nhân nắm giữ 80% cổ phần, 20% còn lại thuộc về Chính phủ Mỹ; cổ đông bầu ra 20 người trong số 25 người của hội đồng quản trị, 5 người còn lại do Chính phủ bổ nhiệm) để phụ trách hoàn toàn việc phát hành tiền tệ.

Tháng 12 năm 1791, khi được đưa ra Quốc hội thảo luận, phương án của Hamilton đã dẫn đến sự tranh luận rất gay gắt. Cuối cùng, phương án này được cả Thượng và Hạ viện thông qua. Trong khi phải đối mặt với các khoản nợ lớn và khó khăn kinh tế, Tổng thống Washington đã bị đẩy vào thế phân vân cực độ. Vì hiển nhiên, Hiến pháp trao quyền cho Quốc hội phát hành tiền tệ, nhưng Quốc hội không được trao lại quyền hạn này cho bất kỳ ngân hàng tư nhân nào.

Với cương vị Bộ trưởng tài chính, Hamilton đã thuyết phục Washington rằng, nếu không thành lập ngân hàng trung ương để nhận sự đầu tư của nước ngoài đổ vào thì Chính phủ sẽ sụp đổ rất nhanh.

Cuối cùng, những nguy cơ trước mắt đã áp đảo những lợi ích lâu dài trong tương lai. Ngày 25/2/1792, Tổng thống Washington đã đặt bút ký, trao quyền thành lập Ngân hàng trung ương thứ nhất của Mỹ, với thời gian hiệu lực trong 20 năm.

Các nhà tài phiệt quốc tế cuối cùng đã giành được thắng lợi quan trọng, và Ngân hàng trung ương tư nhân này đang nóng lòng chờ các khoản vai từ Chính phủ. Chỉ trong vòng 5 năm (1791-1796), khoản vay của Chính phủ Mỹ đã tăng thêm 8,2 triệu đô-la.

Như vậy, đồng tiền đầu tiên trên đất Mỹ do Chính phủ thuộc địa phát hành, gây ra mâu thuẩn giữa thuộc địa và chính quốc là nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến dành độc lập của thuộc địa châu Mỹ. Nhưng sau khi dành được độc lập thì Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ bị buộc phải trao lại quyền phát hành tiền tệ cho Ngân hàng trung ương tư nhân.

Sau khi trúng cử và trở thành Tổng thống thứ ba của Mỹ (1801-1809), Thomas Jefferson đã nổ lực không ngừng để phế bỏ Ngân hàng trung ương thứ nhất của Mỹ. Đến khi hoạt động của Ngân hàng này sắp mãn hạn vào năm 1811 thì mâu thuẫn giữa thượng viện và hạ viện cũng lên đến đỉnh điểm. Hạ viện đã phủ quyết đề án kéo dài thời hạn hoạt động của Ngân hàng với 65 phiếu thuận/64 phiếu chống, còn thượng viện thì ở thế giằng co 17/17. Nhưng nhờ lá phiếu phủ quyết quan trọng của Phó tổng thống, một quyết định được thông qua ngày 3/3/1811, theo đó, Ngân hàng trung ương thứ nhất của Mỹ phải đóng cửa.

Tình hình lúc này tại châu Âu

Thời điểm này ở châu Âu, gia tộc Rothschild gốc Do Thái (Kinh doanh trong lĩnh vực Ngân hàng) do Nathan Rothschild đứng đầu đang trấn giữ ở Luân Đôn, cùng các anh em khác của ông ở Frankfurt – Đức (Amschel Rothschild – người anh lớn nhất), Napoli – Ý (Calmann Rothschild – người em thứ tư), Paris – Pháp (James Rothschild – người em thứ năm), Vienna – Áo (Salomom Rothschild – người anh lớn thứ hai) tạo thành một tập đoàn ngân hàng quốc tế đầu tiên trên thế giới. Năm anh em đang dõi theo cuộc chiến tranh quan trọng của châu Âu trong năm 1815 liên quan đến số phận và tiền đồ của cả lục địa già, và sẽ được quyết định bằng kết quả chiến sự giữa Hoàng đế Napoleon của nước Pháp và Công tước Wellington của nước Anh.

Bằng việc nhận định tình hình của châu Âu với tầm nhìn xa rộng, gia tộc Rothschild đã chuẫn bị mọi thứ từ việc nắm giữ một lượng lớn tiền hiện kim, công trái cho đến việc hình thành nên một mạng lưới tình báo, thư tín và thông tin cực kỳ hiệu quả. Tất cả những sự chuẩn bị đó giúp họ chủ động thu được kết quả mỹ mãn như ý muốn, bất chấp kết quả cuộc chiến ra sao.

Không nằm ngoài dự tính của gia tộc Rothschild, các tin tức tình báo cho hay nước Anh thắng trận đã được Nathan biết sớm hơn một ngày so với cả Luân Đôn. Đến thời điểm quyết định, Nathan xuất hiện tại Sở chứng khoán Anh. Ông ta ra hiệu cho nhân viên môi giới của mình bán cho bằng hết lượng lớn công trái mà ông ta nắm giữ bằng một ánh mắt sắc lạnh và cơ mặc không chút biến đổi. Khiến cho những người có mặt tại Sở chứng khoán hoan mang cực độ. Sau ít phút bần thần, họ dẫm đạp lên nhau để bán tháo tất cả công trái của mình. Chỉ chờ có vậy, khi công trái Anh gần như vô giá trị thì Nathan lại dùng ánh mắt ra hiệu cho người của mình ập đến bàn giao dịch và thu gom tất cả công trái. Những người có mặt quá ngỡ ngàng đến nổi không biết phải làm gì.

Nathan đã nắm giữ số lượng áp đảo công trái Chính phủ Anh và đương nhiên quyết định giá trị của công trái, chi phối hoàn toàn lượng tiền tệ của nước Anh. Vì Chính phủ không có quyền phát hành tiền tệ, họ phải vai tiền từ ngân hàng và thế chấp bằng công trái với lãi suất 8%, trong khi ngân hàng được trao quyền phát hành các loại ‘chứng chỉ ngân hàng’ dựa vào lượng công trái họ sở hữu, chúng có hiệu lực giá trị như tiền pháp định ngày nay.

Nathan đã không cần che đậy vẻ kiêu ngạo khi chinh phục được nước Anh:

“Tôi chẳng cần quan tâm con rối nào đang thống trị đế quốc mặt trời không bao giờ lặn này. Ai khống chế được việc cung ứng tiền tệ của đế quốc Anh thì người đó khống chế được đế quốc Anh, mà người này chẳng ai khác ngoài tôi.”

Các nước tham chiến khác cũng chịu những tổn thất nặng nề, ngập trong nợ nầng và các khoản chi phí bồi thường chiến tranh do là nước bại trận. Chính phủ các nước này buộc phải vai tiền ‘kim loại’ từ ngân hàng để tiêu xài và chống chọi lại các khoản nợ, tránh cho Chính phủ sụp đổ.

Như vậy Nathan đã trở thành Chúa tể của Luân Đôn, nơi được mệnh danh là Thành phố Tài chính, và các anh em của ông cũng dần dần chinh phục được các nước Đức, Ý, Pháp và Áo tạo nên một Đế chế Tài chính thực sự tại châu Âu, và có thể nói, họ mới chính là Ông chủ của châu Âu.

SỰ TRỞ LẠI CỦA NGÂN HÀNG QUỐC TẾ (1816 – 1832)

Nathan Rothschild đang trấn giữ ở London, khi hay tin đã nổi trận lôi đình. Ông ta nói một cách đe dọa rằng: “Hoặc là ngân hàng (Ngân hàng thứ nhất Mỹ) được quyền kéo dài thời hạn kinh doanh, hoặc là nước Mỹ sẽ phải đối mặt với một cuộc chiến tranh tai họa nhất.” Nhưng đáp lại lời thách thức ấy của Nathan, Chính phủ Mỹ vẫn không hề đưa ra bất cứ hành động nào, Nathan lập tức đáp trả: “Hãy dạy cho những người Mỹ vô lý này một bài học, hãy đưa chúng trở về thời kỳ thuộc địa.”

Kết quả là mấy tháng sau, cuộc chiến tranh năm 1812 giữa Anh và Mỹ đã nổ ra. Cuộc chiến đã kéo dài suốt ba năm, mục đích của Rothschild là hết sức rõ ràng. Họ phải đánh cho đến khi những khoản nợ của Chính phủ Mỹ chất cao như núi, và chính phủ Mỹ rốt cuộc không thể không đầu hàng, phải nhượng bộ để cho họ được tiếp tục chi phối ngân hàng trung ương mới thôi. Kết quả là khoản nợ của Chính phủ Mỹ đã tăng vọt từ 45 triệu đô-la lên đến 127 triệu đô-la, để rồi cuối cùng, vào năm 1815, Chính phủ Mỹ cũng đã phải chịu khuất phục. Ngày 5 tháng 12 năm 1815, tổng thống Madison đã đề xuất thành lập ngân hàng trung ương thứ hai, kết quả là Ngân hàng thứ hai của nước Mỹ (The Bank of the United States) đã được khai sinh vào năm 1816 (1816 – 1832).

“Sự chi phối của các cơ cấu ngân hàng đối với ý thức nhân dân tất yếu sẽ bị phá vỡ, nếu không thì sự chi phối này sẽ phá vỡ đất nước chúng ta.”

Thư của Jefferson gửi cho Munroe (Tổng thống thứ 5 của hoa Kỳ) năm 1815

Ngân hàng thứ hai của Mỹ được cấp phép kinh doanh từ những năm 20 với tổng số vốn cổ phần lên đến 35 triệu đô-la Mỹ, trong đó 80% vốn do tư nhân chiếm giữ, 20% vốn còn lại thuộc về Chính phủ. Và cũng giống như ngân hàng thứ nhất, Rothschild cũng nắm chắc quyền lực của ngân hàng thứ hai.

Alexander Hamilton, Bộ trưởng Tài chính đầu tiên và là người đề xuất thành lập Ngân hàng Trung ương đầu tiên – là một nhân vật có tầm ảnh hưởng quan trọng trong mối quan hệ mật thiết với dòng họ Rothschild. Sinh ra ở quần đảo Tây Ấn Độ thuộc Anh, Hamilton đến Mỹ với tên tuổi, danh tính và nơi xuất thân được dấu kín, sau đó kết hôn cùng cô con gái của một gia đình giàu có ở New York. Và theo những biên lai chuyển khoản còn lưu trữ ở bảo tàng Anh quốc, chúng ta có thể thấy rằng, Hamilton đã từng tiếp nhận sự trợ giúp của dòng họ Rothschild.

Năm 1828, Andrew Jackson tham gia tranh cử tổng thống. Trong một lần phát biểu trước các ngân hàng, ông đã không ngần ngại mà nói rằng:

“Các ngài là một lũ rắn độc. Tôi muốn quét sạch các ngài, nhân danh Chúa, nhất định tôi sẽ quét sạch các ngài. Nếu như người dân biết được tiền tệ và hệ thống ngân hàng của chúng tôi không minh bạch như thế nào, thì ngay trước sáng ngày mai sẽ nổ ra cuộc cách mạng.”

Khi được bầu làm tổng thống năm 1828, Andrew Jackson quyết tâm phế bỏ Ngân hàng thứ hai. Ông chỉ ra rằng: “Nếu hiến pháp trao quyền cho Quốc hội phát hành tiền tệ, vậy thì hãy để cho Quốc hội thực thi quyền của mình, chứ không phải là để quốc hội trao quyền đó cho bất cứ cá nhân hay công ty nào.” Trong tổng số 11.000 nhân viên đang làm việc cho Chính phủ liên bang, ông đã cho sa thải hơn 2000 nhân viên có liên quan đến ngân hàng.

Năm 1832, Jackson tham gia tranh cử nhiệm kỳ thứ hai. Nếu ông thắng cử, thì thời gian hoạt động của ngân hàng thứ hai sẽ kết thúc trong nhiệm kỳ tiếp theo của ông vào năm 1836. Mọi người đều biết cảm tưởng của tổng thống đối với ngân hàng thứ hai, và để tránh tình trạng “đêm dài lắm mộng”, ngân hàng đã nghĩ cách để có được giấy phép kinh doanh đặc biệt kéo dài thêm 20 năm nữa trước khi diễn ra cuộc tổng tuyển cử. Đồng thời với việc này, các ngân hàng cũng đã không tiếc chi ra khoản tiền 3 triệu đô-la để ủng hộ cho quỹ tranh cử của Henry Clay – đối thủ của Tổng thống Jackson, trong khi khẩu hiệu tranh cử của Jackson là “Có Jackson thì không có ngân hàng”. Cuối cùng, Jackson đã giành thắng lợi với số phiếu áp đảo.

Đề án kéo dài thời hạn giấy phép kinh doanh ngân hàng đã được thông qua tại thượng nghị viện với số phiếu 28/20, và vượt qua cửa hạ nghị viện với số phiếu 167/85. Ỷ vào sự hậu thuẫn của đế quốc tài chính Rothschild hùng mạnh ở châu Âu, Biddle – chủ tịch ngân hàng thứ hai – chẳng coi Tổng thống ra gì. Trong khi thiên hạ bàn tán xôn xao rằng đề án kéo dài thời hạn kinh doanh của ngân hàng sẽ bị Jackson phủ quyết, Biddle đã lên giọng tuyên bố: “Nếu ông ta phủ quyết đề án, thì tôi sẽ phủ quyết ông ta.”

Rốt cục, Jackson đã phủ quyết không chút do dự đối với đề án kéo dài thời hạn kinh doanh của ngân hàng thứ hai. Ông còn lệnh cho Bộ trưởng tài chính lập tức yêu cầu các cơ quan dự trữ của Chính phủ rút ngay các khoản tiền tiết kiệm từ tài khoản của ngân hàng thứ hai, chuyền vào các tài khoản của ngân hàng ở các bang. Ngày 8 tháng 1 năm 1835, Tổng thống Jackson đã trả xong khoản nợ cuối cùng của đất nước, đây là lần duy nhất trong lịch sử nước Mỹ, Chính phủ đã giảm khoản nợ quốc gia xuống mức 0, đồng thời còn tạo ra một khoản thặng dư trị giá 35 triệu đô-la Mỹ. Các nhà sử học đánh giá thành tựu vĩ đại này rằng: “Đây là vinh dự sáng lạn nhất của tổng tống, cũng là sự cống hiến quan trọng nhất mà ông đã làm cho đất nước này.” Tờ Boston Post đã xem việc này giống như sự kiện Chúa đuổi người cho vay tiền ra khỏi thánh đường vậy.

“NGÂN HÀNG MUỐN GIẾT CHẾT TÔI, NHƯNG TÔI SẼ GIẾT CHẾT NGÂN HÀNG”

Ngày 30 tháng 1 năm 1835, Tổng thống Andrew Jackson đến Capital Hill tham dự tang lễ của một nghị sĩ quốc hội. Richard Laurence – một tay thợ sơn thất nghiệp đến từ Anh – đã lẻn theo Tổng thống Andrew Jackson, trong túi áo khoác của anh ta dấu sẵn hai khẩu súng đã nạp đầy đạn. Khi Tổng thống tiến vào phòng nghi thức tang lễ, Lawrence vẫn còn cách Tổng thống một khoảng khá xa. Hắn nhẫn nại chờ thời cơ tốt hơn để hành động. Sau khi nghi thức kết thúc, hắn nấp vào giữa hai hàng cột, nơi mà hắn biết chắc chắn tổng thống phải đi qua. Vừa đúng lúc Tổng thống bước đến, hắn từ phía sau cột xông ra, bóp cò súng bắn thẳng vào Tổng thống trong khoảng cách chưa đầy hai mét. Nhưng rất may đạn bị lép, nên Laurence đã không thể hạ sát được Tổng thống. Khi đó, mọi người xung quanh đều hết sức hoảng hốt. Nhưng vị tổng thống 67 tuổi này vẫn tỏ ra bình tĩnh đối mặt với tên sát thủ, và theo bản năng, ông đưa cây gậy của mình lên để tự vệ. Liền đó, tên sát thủ lại tiếp tục móc khẩu súng thứ hai ra và bóp cò, nhưng đạn vẫn bị lép. Đây là tổng thống đầu tiên của Mỹ bị ám sát, và thật may mắn là ông đã thoát chết. Thông thường, tỉ lệ cả hai khẩu súng đều lép đạn chỉ là 1/125000 mà thôi.

Tên sát nhân 32 tuổi này tự xưng là người thừa kế hợp pháp của quốc vương Anh, và hắn cho rằng, tổng thống Mỹ đã giết chết cha hắn, lại còn cự tuyệt để hắn có được một khoản tiền lớn. Sau đó, tại tòa án, chỉ sau năm phút thẩm tra, tòa đã phán quyết là tên sát nhân này mắc bệnh tâm thần, nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hắn.

Từ đó về sau, bệnh tâm thần trở thành cái cớ thích hợp nhất để chạy tội của các sát thủ.

Ngày 8 tháng 1 năm 1835, Tổng thống Jackson đã trả xong khoản nợ cuối cùng của đất nước. Cuối tháng Giêng, tức là ngày 30 tháng 1, vụ ám sát xảy ra. Liên quan đến tên hung thủ Richard Laurence, Griffin đã viết trong sách của ông rằng: “Tên sát thủ này hoặc là bị bệnh tâm thần thật, hoặc là giả bệnh để hòng thoát khỏi sự trừng trị nghiêm minh của pháp luật. Sau này, hắn đã khua môi múa mép nói với người khác rằng hắn có mối quan hệ mật thiết với những người có quyền thế ở châu Âu, và hắn đã được hứa là nếu có bị bắt thì sẽ được bảo vệ.”

Ngày 8 tháng 6 năm 1845, Tổng thống Jackson qua đời. Trên bia mộ của ông chỉ có một câu nói duy nhất, “Ta đã giết được ngân hàng.”

CHIẾN TUYẾN MỚI: “HỆ THỐNG TÀI CHÍNH ĐỘC LẬP”

Ngân hàng Trung ương Mỹ lại một lần nữa bị vô hiệu hóa, dẫn đến sự trả đũa nghiêm khắc của phía Anh, nước Anh lập tức đình chỉ các khoản cho vay đối với nước Mỹ, trong đó có chiêu tận thu lượng cung ứng tiền vàng của nước Mỹ. Nền tài chính của nước Anh khi đó dưới sự vận hành và thao tác của Rothschild, đã có được lượng lưu thông tiền vàng với quy mô lớn nhất. Thông qua các khoản tiền cho vay và sự vận hành của ngân hàng trung ương Mỹ, nó đã khống chế hoàn toàn việc cung ứng tiền tệ của Mỹ.

Sau khi đơn xin kéo dài thời hạn của ngân hàng thứ hai nước Mỹ bị Tổng thống phủ quyết, chủ tịch ngân hàng thứ hai đã khởi động việc “phủ quyết” đối với Tổng thống. Ngân hàng thứ hai tuyên bố lập tức thu hồi các khoản đã cho vay, đình chỉ tất cả các khoản vay mới. Các ngân hàng chủ yếu ở châu Âu do dòng họ Rothschild thao túng cũng đồng thời khống chế vòng quay lưu chuyển tiền tệ của nước Mỹ, đẩy nước Mỹ rơi vào tình thế sụt giảm lượng lưu thông tiền tệ “do con người gây ra” một cách nghiêm trọng, cuối cùng dẫn đến “cuộc khủng hoảng năm 1837”, kinh tế Mỹ rơi vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng trong suốt hơn 5 năm, sức phá hoại của nó lớn chưa từng thấy, gây nên thời kỳ điêu tàn của nền kinh tế Mỹ kéo dài mãi đến năm 1929.

“Cuộc khủng hoảng năm 1857” tiếp sau “cuộc khủng khoảng năm 1837”, rồi cuộc khủng hoảng năm 1907 một lần nữa đã xác nhận câu nói của Rothschild: “Chỉ cần có thể khống chế việc phát hành tiền tệ của một quốc gia thì ta không cần phải quan tâm rằng ai đã đặt ra pháp luật.”

Năm 1837, Martin P. Bran – người kế nhiệm được Tổng thống Jackson ủng hộ – tiếp quản Nhà trắng. Thách thức lớn nhất của ông là làm thế nào để khắc phục nguy cơ khủng hoảng nghiêm trọng do ngân hàng quốc tế thắt chặt nguồn cung ứng tiền. Sách lược tiên phong của ông là xây dựng “hệ thống tài chính độc lập” (Independent Treasury System), rút toàn bộ tiền tệ do Bộ tài chính kiểm soát khỏi hệ thống ngân hàng tư nhân, rồi gửi vào trong hệ thống của mình ở Bộ tài chính. Các nhà sử học gọi hành động này là “cuộc ly hôn giữa tài chính và ngân hàng”.

Khởi nguồn của “hệ thống tài chính độc lập” là khi Tổng thống Jackson phủ quyết việc kéo dài thời hạn kinh doanh của ngân hàng thứ hai của Mỹ, đồng thời ra lệnh rút toàn bộ các khoản tiền của Chính phủ khỏi hệ thống ngân hàng này, chuyển đến gửi ở ngân hàng của các bang. Ai ngờ, tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa. Các nhà ngân hàng dùng tiền của Chính phủ làm dự trữ, sau đó phát hành tín dụng với số lượng lớn để đầu cơ. Đây là một nguyên nhân khác dẫn đến “cuộc khủng hoảng năm 1837”. Nguồn tiền của chính phủ do Martin P. Bran đề xuất phải làm sao được giải phóng khỏi hệ thống tài chính nhằm bảo vệ tiền vốn của Chính phủ đồng thời cân nhắc khả năng ngân hàng dùng tiền thuế của người dân để phát hành tín dụng với số lượng lớn tạo nên sự mất cân bằng trong nền kinh tế. Một đặc điểm khác của “hệ thống tài chính độc lập” là tất cả các khoản tiền nhập vào hệ thống tài chính cần phải được thể hiện dưới dạng vàng bạc, như vậy Chính phủ đã có được một điểm tựa để điều tiết khống chế đối với lượng cung ứng tiền vàng của quốc gia nhằm khống chế cuộc xung đột giữa ngân hàng châu Âu đối với việc phát hành tiền tệ của nước Mỹ. Cách suy nghĩ này có thể nói là một diệu kế nếu nhìn từ góc độ lâu dài, nhưng nếu xét về ngắn hạn thì lại có thể châm ngòi nổ cho quả bom rủi ro tín dụng của rất nhiều các ngân hàng, chẳng khác nào đổ thêm dầu vào lửa trong cuộc xung đột với Ngân hàng thứ hai của Mỹ, khủng hoảng sẽ xảy ra đến mức không thể khống chế được.

Trong quá trình này, Henry Clay là một nhân vật hết sức quan trọng. Ông là người kế thừa quan trọng tư tưởng Ngân hàng trung ương tư hữu của Hamilton, và là nhân vật được mến mộ của các nhà tài phiệt ngân hàng. Ông là người có tài ăn nói, lối suy nghĩ chặt chẽ, và có sức lôi cuốn. Ông đã tụ hội được bên mình một nhóm các nghị sĩ ủng hộ ngân hàng và được các ngân hàng ủng hộ. Ông đã thành lập đảng Whig (tiền thân của đảng tự do Anh) – một đảng kiên quyết phản đối chính sách ngân hàng của Tổng thống Jackson đã dồn sức vào việc khôi phục lại chế độ ngân hàng trung ương tư hữu.

Trong cuộc bầu tổng thống năm 1840, đảng Whig đã đề cử vị anh hùng chiến tranh William Henry Harrison, và do trong suy nghĩ của người dân có sự thay đổi về nguy cơ kinh tế, nên Harrison đã dành thắng lợi và trở thành Tổng thống thứ 9 của nước Mỹ một cách thuận lợi.

Với vai trò thủ lĩnh của đảng Whig, Henry Clay đã nhiều lần “chỉ đạo” Harrison phải điều hành nền chính trị như thế nào. Sau khi Harrison trở thành Tổng thống, mâu thuẫn giữa hai người ngày càng trở nên gay gắt. Henry Clay đã triệu kiến “tổng thống sắp nhậm chức” đến nhà mình ở Lexington. Vì nghĩ đến đại cuộc nên Harrison đã nhẫn nhịn đến nhà Henry Clay, nhưng vì vấn đề ngân hàng quốc gia, chế độ tài chính độc lập và nhiều vấn đề khác nữa mà hai người đã gây gổ với nhau. Nguyên nhân là vì Henry Clay cho rằng có thể lấy thân phận “thái thượng hoàng” của mình để ra lệnh, dù chưa được sự đồng ý của Harrison nhưng ông ta đã cho người chấp bút viết bài diễn văn nhậm chức thay tổng thống và đã bị Harrison từ chối, Harrison còn đích thân viết một vài diễn văn nhậm chức dài hơn 8000 từ. Văn kiện tóm lược lại đường lối tư tưởng trị nước của Harrison đã phản bác lại luận điệu ngân hàng trung ương tư nhân và phế bỏ đường lối chính sách tài chính độc lập do Henry Clay chủ trương, từ đó tạo nên một đòn đau thấu xương đối với lợi ích của ngân hàng.

Ngày 4 tháng 3 năm 1841 là một ngày rét mướt, Tổng thống Harrison đã phát biểu bài diễn văn nhậm chức của mình trong gió rét, và rốt cuộc đã bị cảm lạnh. Đối với Tổng thống Harrison, người một đời xông pha nơi trận mạc thì chuyện này cũng chẳng có gì lớn lao, nào ngờ bệnh tình của ông lại ngày càng trở nên trầm trọng khác thường, và đến ngày 4 tháng 4 thì từ trần. Tổng thống Harrison vừa mới lên nhậm chức và đang chuẩn bị triển khai rất nhiều dự định lớn lao thì bỗng nhiên “đột tử”. Việc một vị tổng thống vẫn còn minh mẫn hoạt bát tháng trước lại đột ngột từ trần tháng sau, dù thế nào thì đó cũng là một việc hết sức đáng ngờ. Có một số nhà sử học cho rằng tổng thống băng hà là do bị đầu độc, có thể thời gian hạ độc là vào ngày 30 tháng 3, và sau 6 ngày thì tổng thống Harrison từ trần.

Cuộc đấu tranh xung quanh chuyện ngân hàng trung ương tư hữu và hệ thống tài chính độc lập càng trở nên căng thẳng hơn vì cái chết của tổng thống Harrison. Trong năm 1841, Đảng Whig do Henry Clay chủ trì đã hai lần đề xuất phải khôi phục lại ngân hàng trung ương tư hữu và phế bỏ chế độ tài chính độc lập, kết quả cả hai lần đều bị người kế nhiệm của tổng thống Harrison là phó tổng thống John Tyler phủ quyết. Henry Clay tức giận và xấu hổ đã ra lệnh khai trừ John Tyler ra khỏi đảng Whig, kết quả là tổng thống John Tyler “may mắn” trở thành vị tổng thống “mồ côi” bị khai trừ ra khỏi đảng duy nhất trong lịch sử nước Mỹ.

Đến năm 1849, một nhân vật khác của đảng Whig là Zachary Taylor sau khi trúng cử tổng thống, đã khôi phục lại hy vọng của ngân hàng trung ương. Việc xây dựng một ngân hàng trung ương tư nhân theo mô hình của ngân hàng Anh là mơ ước cao nhất của các ngân hàng, và nó có nghĩa rằng, cuối cùng thì ngân hàng cũng quyết định được số phận của quốc gia và nhân dân. Nhìn vào vết xe đổ trước đó của tổng thống Harrison, Taylor luôn tỏ ra hững hờ đối với vấn đề ngân hàng trung ương hết sức quan trọng này, nhưng đồng thời ông cũng không cam tâm trở thành con rối trong tay Henry Clay. Nhà sử học Michael Holt đã cho rằng, Tổng thống Taylor đã từng ngầm bày tỏ như thế này “Chủ ý xây dựng ngân hàng trung ương đã được định đoạt, và đó không phải là vấn đề cần được tôi xem xét trong nhiệm kỳ của mình.” Kết quả là, “cái đã được định đoạt” ở đây không phải là sự chú ý của ngân hàng trung ương mà nhắm vào bản thân tổng thống Taylor.

Ngày 4 tháng 7 năm 1850, Tổng thống Taylor tham dự lễ quốc khánh được cử hành trước đài tưởng niệm Washington. Thời tiết hôm đó hết sức oi nồng, Taylor đã uống một chút sữa đá, và ăn thêm mấy quả anh đào, kết quả là ông bị đau bụng. Đến ngày 9 tháng 7 thì vị tổng thống khôi ngô vạm vỡ này cũng ra đi một cách thần bí.

Sự kiện đột tử thần bí vì những căn bệnh chẳng đâu vào đâu của cả hai vị tổng thống có xuất thân từ quân nhân này đương nhiên đã gây xôn xao dư luận. Còn giới sử học thì tranh luận về đề tài này trong hàng thế kỷ. Năm 1991, sau khi được sự đồng ý của người nhà Tổng thống Taylor, thi thể của ông đã được khai quật lên, người ta lấy mẫu móng tay và tóc của Tổng thống đi xét nghiệm. Kết quả cho thấy, ông chết vì bị đầu độc. Đương nhiên cơ quan điều tra đã nhanh chóng lấp liếm rằng lượng đầu độc rất nhỏ không đủ để gây chết người, sau đó vội vàng kết thúc vụ điều tra. Cho đến ngày nay, chẳng ai biết được tại sao cơ thể tổng thống lại có những thứ độc tố này.

NGÂN HÀNG QUỐC TẾ RA TAY TẠO NÊN CUỘC “KHỦNG HOẢNG NĂM 1857”

Do Ngân hàng thứ hai của Mỹ đóng cửa năm 1836 nên các ông chủ ngân hàng quốc tế đã đột ngột ra tay rút sạch toàn bộ lượng tiền tệ kim loại đang lưu thông ở nước Mỹ, tạo nên khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng liên tục trong 5 năm ở quốc gia này. Mặc dù vào năm 1841, đại diện của các chủ ngân hàng quốc tế đã từng hai lần thử khôi phục lại hệ thống ngân hàng trung ương tư nhân, nhưng cả hai lần đều thất bại, mối quan hệ giữa hai bên rơi vào trạng thái đóng băng, tình trạng siết chặt tiền tệ của Mỹ kéo dài mãi đến năm 1848 mới bắt đầu được giải tỏa.

Nguyên nhân khiến cho tình hình chuyển biến tích cực tất nhiên không phải do các ông chủ ngân hàng quốc tế quá từ bi, mà là do vào năm 1848, nước Mỹ đã phát hiện mỏ vàng rất lớn: mỏ vàng San Francisco.

Lượng cung ứng vàng của Mỹ liên tục trong 9 năm kể từ năm 1848 đã tăng vọt chưa từng thấy, chỉ riêng California đã sản xuất ra một lượng tiền vàng trị giá đến 5 tỉ đô-la Mỹ. Năm 1851 ở Úc cũng phát hiện được một mỏ vàng có trữ lượng lớn, lượng cung ứng vàng trong phạm vi thế giới từ 144 triệu siling của năm 1851 tăng vọt lên 376 triệu siling trong năm 1861. Và lưu lượng tiền thuộc kim nội địa của Mỹ từ 83 triệu đô-la trong năm 1840 tăng vọt lên 253 triệu đô-la trong năm 1860.

Việc phát hiện những mỏ vàng lớn ở Mỹ và Úc đã phá vỡ sự khống chế tuyệt đối của các nhà tài chính châu Âu đối với lượng cung ứng vàng thế giới. Chính phủ Mỹ thở phào nhẹ nhõm vì đã thoát được cảnh phải bị siết chặt tiền tệ. Việc cung ứng tiền tệ với chất lượng tốt và số lượng nhiều đã làm tăng niềm tin cho thị trường, các ngân hàng bắt đầu bành trướng hoạt động tín dụng trên quy mô lớn. Cơ sở quan trọng nhất trong tài sản của nước Mỹ là rất nhiều ngành công nghiệp quan trọng của Mỹ như công nghiệp, khoáng sản, giao thông, cơ giới đều được khôi phục nhanh chóng trong giai đoạn hoàng kim này.

Thấy việc khống chế tài chính tỏ ra không còn hiệu quả, các ông chủ ngân hàng quốc tế sớm đã có đối sách mới. Đó chính là chính sách khống chế tài chính, phân hóa chính trị.

Trước khi cuộc khủng hoảng kết thúc, các ông chủ ngân hàng đã bắt đầu ra tay thu mua của cải quý giá của dân chúng với giá rẻ mạt. Đến năm 1853, khi nền kinh tế Mỹ phất như diều gặp gió thì tư bản nước ngoài, đặc biệt là tư bản Anh đã sở hữu 46% trong tổng số công trái liên bang, 58% tổng công trái các bang, 26% tổng công trái ngành đường sắt Mỹ. Như vậy, một khi chế độ ngân hàng trung ương được yên vị thì nền kinh tế Mỹ cũng sẽ bị các ông chủ ngân hàng khống chế giống như các quốc gia châu Âu khác.

Các ông chủ ngân hàng quốc tế mở rộng hoạt động tín dụng, khiến nền kinh tế phát triển với tốc độ như bơm bong bóng để người dân và các doanh nghiệp khác ra sức tạo ra của cải, sau đó đạp gấp phanh tín dụng, khiến cho hầu hết các doanh nghiệp và người dân mất máu mà phá sản, còn các ngân hàng lại được một phen bội thu. Quả nhiên, trong khi thấy mùa thu hoạch đã đến, các ông chủ ngân hàng quốc tế và các đại diện của họ ở Mỹ đã quơ tay siết chặt tín dụng, gây nên cuộc khủng hoảng năm 1857. Nhưng điều vượt ra ngoài dự liệu của họ là, thực lực của nền kinh tế Mỹ lúc này đã không còn như 20 năm trước nữa, cuộc khủng hoảng năm 1857 không thể làm chấn thương trầm trọng nền kinh tế Mỹ một lần nữa, mà nó chỉ kéo dài trong một năm thì nước Mỹ đã dập tắt được khủng hoảng.

Khi thấy thực lực của nước Mỹ ngày càng mạnh, tài chính ngày càng khó bị khống chế, các ông chủ ngân hàng quốc tế đặt ra nhiệm vụ trọng tâm cho mình: kích động nội chiến và chia cắt nước Mỹ.

CHÍNH SÁCH MỚI VỀ TIỀN TỆ CỦA LINCOLN

Không có tiền thì không thể tiến hành chiến tranh, mà nếu vay của ngân hàng quốc tế thì chẳng khác nào tự treo thòng lọng vào cổ mình. Lincoln nghĩ trăm phương ngàn kế để tìm phương án giải quyết. Lúc đó, Dick Taylor – một người bạn cũ của ông ở Chicago – đã đề xuất với Lincoln một chủ ý, Chính phủ tự phát hành tiền tệ!

“Việc yêu cầu Quốc hội thông qua đề án này cũng như vấn đề trao quyền cho Bộ tài chính ấn hành tiền tệ sẽ có đầy đủ hiệu lực pháp luật nhằm giúp chi trả lương bổng cho binh sĩ, sau đó sẽ giúp anh giành được thắng lợi trong cuộc chiến mà anh tiến hành.” Lincoln hỏi liệu người dân Mỹ có tiếp nhận đồng tiền mới này hay không, Dick nói rằng “tất cả mọi người đều sẽ không có sự lựa chọn nào khác trong vấn đề này, chỉ cần anh tạo nên hiệu lực pháp lý đầy đủ cho loại tiền tệ mới này, Chính phủ đưa ra sự ủng hộ hoàn toàn, và chúng sẽ thông dụng giống như một loại tiền đích thực, bởi vì hiến pháp trao cho quốc hội quyền phát hành và quyền quy định giá trị tiền tệ.”

Sau khi nghe xong đề nghị này, Lincoln tỏ ra quá đỗi vui mừng, lập tức đề nghị Dick lập kế hoạch cho việc này. Biện pháp hết sức mới lạ này đã phá vỡ cách làm thường lệ của Chính phủ là cần phải vay tiền và chịu lãi suất cao của ngân hàng tư nhân. Loại tiền mới này sử dụng hoa văn màu xanh lục để phân biệt với tiền của các ngân hàng khác và được lịch sử gọi là “tiền xanh” (Greenback). Chỗ mới lạ đặc biệt của loại tiền mới này nằm ở chỗ nó hoàn toàn không có thế chấp bằng tiền vàng hay bạc, và lợi tức là 5% cho 20 năm.

Trong thời kỳ nội chiến, nhờ có sự phát hành của loại tiền này mà Mỹ đã khắc phục được tình trạng thiếu hụt tiền tệ nghiêm trọng của Chính phủ trong giai đoạn đầu của cuộc chiến. Điều này đã huy động một cách hiệu quả nhất tất cả các nguồn vốn của miền bắc nước Mỹ, tạo nên một cơ sở kinh tế vững chắc cho chiến thắng cuối cùng trước quân miền nam. Đồng thời, loại tiền này nhờ có giá thành thấp nên cũng đã trở thành loại tiền tích luỹ của ngân hàng miền Bắc, tín dụng ngân hàng của miền Bắc cũng nhờ đó mà được mở rộng, công nghiệp quốc phòng, xây dựng đường sắt, sản xuất nông nghiệp và mậu dịch thương nghiệp đều nhận được sự chi viện tài chính lớn chưa từng có so với trước đó.

Việc phát hiện những mỏ vàng lớn những năm 1848 đã khiến cho nền tài chính Mỹ dần dần thoát khỏi cục diện bất lợi và cực đoan do các ngân hàng châu Âu khống chế, và cũng chính nhờ vào sản lượng lớn những mỏ vàng này làm niềm tin nên loại tiền mới của Lincoln mới có thể được người dân tiếp nhận rộng rãi, đặt cơ sở tài chính đáng tin cậy cho việc giành thắng lợi trong cuộc chiến Nam – Bắc. Một điều nữa khiến người ta càng thêm kinh ngạc hơn là, loại tiền mới do Lincoln phát hành không hề gây ra lạm phát tiền tệ nghiêm trọng kiểu như trong thời kỳ chiến tranh độc lập, từ khi cuộc nội chiến nổ ra vào năm 1861 đến khi kết thúc vào năm 1865, chỉ số vật giá của toàn miền bắc Mỹ chỉ tăng một cách nhẹ nhàng từ 100 lên 216. Xem xét quy mô và sự nghiêm trọng về mức độ phá hoại của cuộc chiến so với những cuộc chiến có quy mô tương tự khác trên thế giới, chúng ta không thể không nói rằng đây là một kỳ tích tài chính. Ngược lại, miền nam cũng dùng phương thức lưu thông tiền giấy, nhưng hiệu quả thì khác xa một trời một vực, chỉ số vật giá của miền nam trong cùng một thời kỳ đã tăng từ 100 lên đến 2776.

Trong suốt thời kỳ chiến tranh Nam – Bắc, Chính quyền Lincoln đã phát hành tổng cộng số tiền mới là 450 triệu đô-la Mỹ. Nhờ cơ chế vận hành đồng tiền mới này tốt như vậy cho nên tổng thống Lincoln đã xem xét hết sức nghiêm túc việc tiến hành trường kỳ hóa và pháp chế hóa việc phát hành loại tiền tệ không thế chấp này (Debt Free Money). Nhưng chính điều này đã như một đòn đau đánh vào lợi ích căn bản của trùm tài chính quốc tế. Nếu như mọi chính phủ đều không cần phải vay tiền của ngân hàng mà “thản nhiên” tự mình phát hành tiền tệ, thì sự lũng đoạn của các ngân hàng đối với việc phát hành tiền tệ sẽ không còn tồn tại nữa, như thế lẽ nào ngân hàng đã trơ mỏ rồi sao?

Ngay sau khi nghe được tin tức này, tờ London Times đại diện cho Ngân hàng Anh quốc đã lập tức đăng tải tuyên bố:

Nếu như chính sách tài chính mới của Mỹ (tiền xanh Lihncon) khiến người ta chán ghét được thực thi vĩnh viễn, chính phủ có thể phát hành khống nguồn tiền tệ của mình. Chính phủ có thể hoàn trả hết mọi khoản nợ đồng thời sẽ thu được những khoản tiền cần thiết để phát triển thương nghiệp, sẽ biến thành một quốc gia phồn vinh chưa từng có trên thế giới, nguồn nhân tài ưu tú và mọi tài nguyên vốn có trên thế giới này sẽ chảy dồn về bắc Mỹ. Quốc gia này cần phải bị phá hủy, nếu không nó sẽ phá hủy từng quốc gia theo chế độ quân chủ trên thế giới.

Chính phủ của Anh và hiệp hội ngân hàng New York đã bày tỏ sự phẫn nộ đòi hỏi phải thực hiện các hành động đáp trả. Ngày 28 tháng 12 năm 1861, họ tuyên bố đình chỉ chi trả bằng tiền kim loại cho Chính phủ của Lincoln. Một số ngân hàng ở New York còn đình chỉ việc rút vàng của những người gửi tiết kiệm bằng vàng, đồng thời tuyên bố hủy bỏ việc chấp nhận dùng vàng mua công trái của Chính phủ. Các ngân hàng ở nhiều nơi trên nước Mỹ cũng rầm rộ hưởng ứng. Họ đến Washington để đề xuất những phương án thay đổi vô nguyên tắc đối với tổng thống Lincoln, đòi thực hiện lại những cách làm trong quá khứ, đem những công trái có lợi tức cao bán cho các ngân hàng châu Âu; đem vàng của Chính phủ Mỹ gửi vào các ngân hàng tư nhân để dự trữ phát hành tín dụng, các ngân hàng phát tài lớn; Chính phủ Mỹ trưng thu thuế của các ngành công nghiệp và người dân để chi trả cho chiến tranh.

Đương nhiên, Tổng thống Lincoln đã cự tuyệt yêu cầu hoàn toàn vô lý này của các ngân hàng. Chính sách của ông rất được lòng dân, người dân Mỹ đã nô nức mua hết toàn bộ công trái, và căn cứ vào pháp luật, các công trái này được sử dụng như là hiện kim.

Các ngân hàng thấy kế sách bất thành bèn nghĩ ra kế khác. Các ngân hàng phát hiện thấy rằng trong luật phát hành tiền xanh Lincoln của quốc hội hoàn toàn không đề cập đến việc nên dùng vàng để chi trả lãi tức công trái hay không. Vì vậy, họ cho phép dùng loại tiền mới của Lincoln để mua công trái, nhưng phần lợi tức phải dùng tiền kim loại để chi trả. Đây là một bước trong kế hoạch hoàn chỉnh nhằm gắn kết đồng tiền mới của Lincoln tại Mỹ với giá trị của vàng. Trong khi đó, các ngân hàng châu Âu tích lũy đồng bảng Anh nhiều hơn bất cứ đồng tiền nào thời đó và nhiều hơn so với tiền vàng của Mỹ. Sự thỏa hiệp giữa ngân hàng Mỹ và quốc hội Mỹ đã khiến cho thế lực tài chính quốc tế lợi dụng việc khống chế tổng lượng xuất nhập khẩu vàng đối với nước Mỹ gián tiếp đạt được hiệu quả thao túng giá trị tiền tệ của Mỹ.

ĐỒNG MINH NGA CỦA LINCOLN

Trong thời khắc nguy ngập khi các quốc vương ở châu Âu đã chuẩn bị sẵn sàng để đem quân sang chia cắt nước Mỹ, Lincoln đã lập tức nhớ đến kẻ thù truyền kiếp của các quốc vương châu Âu – nước Nga. Lincoln đã phái đặc sứ cầu cứu Sa hoàng Alechxande đệ nhị. Khi nhận được thư của Lincoln, Sa hoàng không mở ra ngay, mà nâng nâng trên tay, rồi nói rằng: “Trước khi mở bức thư này hoặc biết được nội dung của nó, chúng ta sẽ đồng ý trước với bất cứ yêu cầu nào mà bức thư đề xuất.”

Nguyên nhân Sa hoàng chuẩn bị tham gia quân sự vào cuộc nội chiến Mỹ có mấy mặt sau đây. Một là sự lo lắng “môi hở răng lạnh”, vì trong thời kỳ Alechxande đại đế trị vì, các thế lực tài chính quốc tế quét sạch châu Âu đã gõ cửa điện Kremli. Học theo kinh nghiệm của các quốc gia tài chính “tiên tiến” ở châu Âu, các ngân hàng Nga kịch liệt yêu cầu thành lập ngân hàng trung ương tư hữu, và Sa Hoàng đã sớm nhận ra chiêu độc trong việc này nên đã kiên quyết từ chối yêu cầu đó. Khi nhìn thấy tổng thống Lincoln – một thế lực phản đối tài chính quốc tế – rơi vào tình cảnh nguy hiểm, nếu như không ra tay tương trợ, thì Alechxande đệ nhị e rằng, chẳng mấy chốc mối nguy ấy sẽ ập đến với chính mình. Một nguyên nhân khác là ngày 3 tháng 3 năm 1861 trước khi nổ ra cuộc nội chiến Nam – Bắc ở Mỹ, Alechxande đệ nhị đã tuyên bố pháp lệnh giải phóng nông nô, và về mặt phế bỏ chế độ nô lệ này, cả hai bên đều có những quan điểm chung. Và còn một điều nữa là cuộc chiến tranh Crimean của nước Nga vừa mới kết thúc năm 1856 đã đại bại dưới tay của liên quân Anh – Pháp, nên Alechxande đệ nhị chưa nguôi chuyện rửa hận.

Chưa tuyên chuyến, hạm đội của Nga dưới sự thống lĩnh của tướng Liviski đã tiến vào cảng New York vào ngày 24 tháng 9 năm 1863. Ngày 12 tháng 10, hạm đội Thái Bình Dương của Nga dưới sự thống soái của tướng Popov đã đến San Francisco . Đối với hành động của nước Nga, Wales đã bình luận rằng: “Họ đã đến khi miền nam đang ở vào lúc triều lên còn miền bắc ở vào thế triều xuống, sự xuất hiện của họ đã tạo nên sự do dự của Anh và Pháp, cuối cùng đã cho Lincoln thời gian xoay chuyển được cục diện.”

Sau khi nội chiến kết thúc, để chi trả khoản phí tổng cộng 7,2 triệu đô-la Mỹ cho hạm đội của nước Nga, Chính phủ của Mỹ đã chần chừ kéo dài thời gian. Bởi vì hiến pháp không trao cho Tổng thống quyền chi trả chi phí chiến tranh cho Chính phủ nước ngoài, Tổng thống Johanson khi đó đã đạt được hiệp ước dùng chính vùng đất Alaska mua của nước Nga để chi trả khoản chi phí chiến tranh. Trong lịch sử, vụ việc này được gọi là “Sự điên rồ của Seward”. Seward là quốc vụ khanh khi đó của Hoa Kỳ, và đã bị dân chúng kịch liệt chỉ trích khi bỏ ra 7,2 triệu đô-la để đi mua lại một vùng đất hoang hóa không đáng một xu khi đó của Nga.

Cũng vì một nguyên nhân tương tự mà Alechxande đệ nhị đã bị hành thích vào năm 1867, nhưng cuộc hành thích đã không thành công. Ngày 1 tháng 3 năm 1881, Alechxande cuối cùng cũng chết vào tay thích khách.

SỰ THỎA HIỆP CHÍ MẠNG: “PHÁP LỆNH NGÂN HÀNG QUỐC GIA” NĂM 1863

Vai trò mà tôi đã đóng góp trong việc thúc dục cho ra đời pháp lệnh ngân hàng quốc gia là sai lầm tài chính nghiêm trọng nhất trong cuộc đời. Sự lũng đoạn (cung ứng tiền tệ) mà nó (pháp lệnh ngân hàng quốc gia) sản sinh ra sẽ ảnh hưởng đến tất cả các phương diện của đất nước này. Nó cần phải bị phế bỏ, nhưng trước khi điều này xảy ra, đất nước này sẽ chia thành hai phía, một bên là người dân, còn bên kia là ngân hàng, tình huống này vẫn chưa từng xuất hiện trong lịch sử của đất nước này.

Bộ trưởng tài chính Mỹ Salomon Ches (1861 – 1864)

Sau khi cuộc chiến tranh Nam – Bắc bùng nổ, Lincoln đã cự tuyệt khoản lợi tức cắt cổ từ 24% đến 36% của Rothschild và các đại diện khác của họ ở Mỹ, chuyển sang trao quyền cho Bộ tài chính phán hành “tín phiếu chính phủ Mỹ” (United States Notes) của riêng mình, hay còn được gọi là bạc xanh. Pháp lệnh tiền tệ (Legal Tender Atc) được thông qua tháng 2 năm 1862 . Pháp lệnh này trao quyền cho Bộ tài chính phát hành 150 triệu đồng tiền xanh, liền sau đó vào tháng 7 năm 1862 và tháng 3 năm 1863, lại trao quyền cho Bộ tài chính phát hành thêm 150 triệu tiền xanh nữa. Nói chung, trong thời kỳ nội chiến, tổng số tiền xanh được phát hành đã lên đến 450 triệu.

Việc phát hành tiền xanh của Lincoln chẳng khác nào chọc vào tổ ong vò vẽ của ngân hàng quốc tế, các ngân hàng đau như bò đá trước hành động này của Tổng thống, nhưng ngược lại, tầng lớp nhân dân và các ngành công nghiệp khác thì lại tỏ thái độ hết sức hoan nghênh đối với loại tiền xanh này. Đồng tiền xanh của Lincoln được lưu hành mãi đến năm 1994 trong hệ thống tiền tệ của Mỹ.

Năm 1863, khi cuộc chiến đã bước đến hồi quyết định nhất, Lincoln cần nhiều tiền xanh hơn nữa để giành được thắng lợi. Nhằm được trao quyền phát hành tiền xanh lần thứ ba, ông không thể không cúi đầu khi các thế lực của các ngân hàng trong quốc hội đề ra một sự thỏa hiệp quan trọng, ký vào pháp lệnh “ngân hàng quốc gia” năm 1863. Pháp lệnh này trao cho Chính phủ quyền phê chuẩn cho ngân hàng quốc gia (National Bank) phát hành chứng chỉ ngân hàng với tiêu chuẩn thống nhất. Những ngân hàng này trên thực tế sẽ phát hành tiền tệ quốc gia của Mỹ. Một điểm hết sức quan trọng chính là những ngân hàng này dùng trái phiếu chính phủ Mỹ (Gorvernment Bond) làm nguồn dự trữ cho việc phát hành chứng chỉ ngân hàng, trên thực tế sẽ khóa chặt sự phát hành tiền tệ của Mỹ với các khoản vay của Chính phủ, và như thế thì Chính phủ sẽ mãi không thể hoàn trả hết các khoản nợ này.

John Kenneth Galbraith – nhà kinh tế học lừng danh người Mỹ – đã từng chỉ ra một cách sắc bén rằng: “Rất nhiều năm sau khi cuộc nội chiến kết thúc, mỗi năm, Chính phủ liên bang đều thu được khoản thặng dư rất lớn. Nhưng nó lại không thể hoàn trả hết những khoản nợ mà nó đã vay, bồi hoàn toàn bộ những khoản nợ Chính phủ đã phát hành ra, bởi vì như vậy đồng nghĩa với việc chẳng còn khoản nợ nào để làm thế chấp cho quỹ tiền tệ quốc gia. Việc hoàn trả hết các khoản nợ cũng đồng nghĩa là đã phá hủy toàn bộ sự lưu thông tiền tệ.”

Âm mưu tái thiết lập một mô hình ngân hàng theo kiểu Ngân hàng Anh ở Mỹ của các ngân hàng quốc tế cuối cùng đã trở thành hiện thực. Từ đây, lợi tức lâu dài từ các khoản nợ của Chính phủ Mỹ sẽ chảy vào túi các ngân hàng, và nó chẳng khác nào một sợi thòng lọng ngày càng siết chặt vào cổ nhân dân Mỹ. Đến năm 2006, tổng khoản vay nợ của Chính phủ liên bang Mỹ đã lên đến con số khổng lồ 86.000 tỉ đô-la, bình quân mỗi nhà có bốn người phải gánh chịu một khoản nợ quốc gia lên đến 112.000 đô-la, và tốc độ tăng trưởng tổng nợ cả đất nước Mỹ trong mỗi giây là 20.000 đô-la! Khoản chi trả lợi tức của Chính phủ liên bang Mỹ đối với nợ quốc gia chỉ đứng sau ngân sách dành cho y tế và quốc phòng, và đến năm 2006 sẽ đạt đến con số khổng lồ 400 tỉ đô-la Mỹ.

Bắt đầu từ năm 1864, các ngân hàng có thể đời đời kiếp kiếp hưởng thụ bữa đại tiệc lợi tức từ khoản nợ quốc gia này của Mỹ. Chỉ vì xem nhẹ sự khác biệt giữa việc chính phủ trực tiếp phát hành tiện tệ với việc chính phủ phát hành công trái còn ngân hàng phát hành tiền, mà các nhà ngân hàng đã tạo nên một sự bất công lớn nhất trong lịch sử loài người. Người dân bị ép phải nộp thuế gián tiếp qua các ngân hàng, mà những khoản thuế này chính là tài sản và tiền bạc do mồ hôi nước mắt của họ làm nên!

Mãi đến ngày nay, Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới có chính sách phát hành tiền tệ do chính phủ trực tiếp điều hành. Nhờ đó khoản lợi tức phải chi trả mà Chính phủ và người dân đã tiết kiệm được trở thành nhân tố quan trọng không thể thiếu khiến Việt Nam có thể phát triển nhanh và lâu dài như vậy. Nếu có ai đó đưa ra đề xuất phải học hỏi “kinh nghiệm tiến bộ” của nước ngoài, ngân hàng nhân dân cần phải dùng nợ quốc gia của Chính phủ làm thế chấp để phát hành tiền tệ, thì người dân cần phải coi chừng.

Lincoln không phải là không biết đến nguy cơ đe dọa vĩnh cửu này và dự tính rằng, sau khi thắng cử ở nhiệm kỳ kế tiếp vào năm 1865, ông sẽ phế bỏ pháp lệnh này, nhưng chỉ 42 ngày sau khi trúng cử, Lincoln đã bị ám sát. Các thế lực của ngân hàng quốc tế trong quốc hội thừa thắng xông lên. Họ cho rằng, cần phải loại bỏ đồng tiền xanh của Lincoln thì mới có thể kê cao gối mà ngủ được. Ngày 12 tháng 4 năm 1866, quốc hội đã thông qua “Pháp lệnh thu hồi” (Contraction Act), hòng thu hồi tất cả các đồng tiền xanh hiện đang lưu thông, và đổi lại thành tiền kim loại, sau đó gạt bỏ tiền xanh ra khỏi hệ thống lưu thông, khôi phục chế độ bản vị vàng.

Ở một đất nước vừa thoát khỏi cuộc chiến điêu tàn cần khôi phục, chẳng có gì hoang đường hơn là một chính sách kiểm soát gắt gao tiền tệ. Lượng tiền tệ lưu thông 1,8 tỉ đô-la Mỹ từ năm 1866 (tức khoảng 50,46 đô-la Mỹ mỗi người), đã sụt giảm xuống còn 1,3 tỉ đô-la Mỹ năm 1867 (tức 44 đô-la Mỹ mỗi người), 600 triệu đola Mỹ năm 1876 (mỗi người 14,6 đô-la), cuối cùng là giảm xuống còn 400 triệu đô-la Mỹ (mỗi người 6,67 đô-la) năm 1886, trong bối cảnh một nước Mỹ với nhiều vết thương chiến tranh cần chữa trị, một nền kinh tế cần được phục hồi và phát triển, đồng thời tình hình dân số tăng nhanh, nhưng lại gặp cảnh thiếu hụt nghiêm trọng lượng cung ứng tiền tệ, đa số người dân đều cho rằng sự phồn vinh rồi suy thoái là quy luật của phát triển kinh tế. Nhưng trên thực tế, nguồn cung ứng tiền tệ được thao túng khi buông khi siết bởi các ngân hàng quốc tế mới là nguồn cơn thực sự của vấn đề.

Mùa đông năm 1872, các ngân hàng quốc tế đã phái Ernest Seyd đem theo một khoản tiền lớn từ Anh vào Mỹ, thông qua việc hối lộ các quan chức để thông qua “pháp lệnh tiền đúc năm 1873” (Coinage Act), lịch sử gọi là “pháp lệnh ngu xuẩn 1873” (Crime of 1873), đích thân Ernest Seyd đã soạn thảo pháp lệnh này, và nó đã gạt bỏ tiền bằng bạc ra khỏi hệ thống lưu thông tiền tệ, tiền vàng trở thành thứ tiền tệ duy nhất. Pháp lệnh này không còn nghi ngờ gì về hiệu ứng phủ sương lên tuyết cho dòng lưu thông tiền tệ vốn đã thiếu hụt trầm trọng. Sau khi xong việc, Ernest Seyd vênh váo tự đắc nói rằng: “Mùa đông năm 1872, ta đã làm một chuyến đến Mỹ, ta đã đảm bảo chắc chắc việc thông qua pháp lệnh tiền đúc để phế bỏ tiền bạc. Cái mà ta đại diện là lợi ích của các chủ tịch ngân hàng Anh quốc. Đến năm 1873, tiền vàng đã trở thành loại tiền kim loại duy nhất.”

Nhưng sự thật, tác dụng của việc loại trừ tiền bạc ra khỏi lĩnh vực lưu thông tiền tệ quốc tế là nhằm để đảm bảo chắc chắn sức khống chế tuyệt đối của các ngân hàng quốc tế đối với lượng cung ứng tiền tệ thế giới, đối phó với việc khai thác các mỏ bạc với số lượng ngày càng nhiều, còn sản lượng và việc thăm dò các mỏ vàng ngày càng ít đi, sau khi đã nắm giữ được việc khai thác các mỏ vàng thế giới, đương nhiên ngân hàng quốc tế không muốn lưu lượng tiền bạc mà họ khó khống chế được lại can dự vào địa vị bá quyền tài chính thế giới của họ. Cho nên kể từ năm 1871, bạc trắng đã được loại trừ đồng loạt ở các quốc gia Đức, Anh, Hà Lan, Áo, Scandinavis, dẫn đến việc lượng lưu thông tiền tệ của mỗi quốc gia bị co lại là rất lớn, từ đó đã dẫn đến cuộc đại suy thoái kinh tế nghiêm trọng kéo dài 20 năm ở châu Âu (Long Depression, 1873 – 1896).

Ở Mỹ, “pháp lệnh thu hồi” và “pháp lệnh tiền đúc” đã trực tiếp gây nên cuộc đại suy thoái kinh tế từ năm 1873 đến năm 1879. Trong khoảng thời gian ba năm này, tỉ lệ thất nghiệp của Mỹ đã cao đến 30%, người dân Mỹ đã cương quyết yêu cầu phải khôi phục lại thời kỳ lưu hành song song tiền bạc và tiền xanh Lincoln. Dân chúng Mỹ thành lập một cách tự phát các tổ chức như hội bạc trắng (US Silver Commission), hội tiền xanh (Greenback Party), thúc đẩy cả nước khôi phục lại chế độ lưu hành song song tiền vàng và tiền bạc, phát hành lại tiền xanh Lincoln vốn được người dân rất hoan nghênh.

Báo cáo của hội bạc trắng ở Mỹ đã chỉ ra: “Thời kỳ trung cổ đen tối chính là do tiền tệ thiếu hụt và giá cả sụt giảm gây nên. Không có tiền tệ, không có văn minh, cung ứng tiền tệ giảm, văn minh tất nhiên sẽ tiêu vong. Thời cơ đốc giáo La Mã, đế quốc có tổng cộng lượng lưu thông tiền tệ kim loại tương đương với 1,8 tỉ đô-la Mỹ, đến cuối thế kỷ 15, lượng lưu thông tiền tệ kim loại (của châu Âu) chỉ còn lại 200 triệu đô-la Mỹ. Lịch sử đã chứng minh rằng không có bất cứ sự thay đổi có tính chất tai họa nào sánh bằng việc đế quốc La Mã chuyển sang thời trung cổ đen tối.”

Nhưng đối diện với những đòi hỏi của dân chúng Mỹ là thái độ dứt khoát lạnh lùng của hiệp hội các nhà ngân hàng Mỹ (The American Bankers Association). Trong thư của hiệp hội này gửi cho các hội viên đã chỉ ra:

Chúng tôi đề nghị các ngài hãy dốc toàn lực dựa vào các nhật báo và tạp chí danh tiếng, đặc biệt là tổ chức nông nghiệp và tôn giáo, kiên quyết phản đối Chính phủ phát hành tiền xanh, các ngài phải chấm dứt trợ giúp những ứng cử viên nào không tỏ ý phản đối việc Chính phủ phát hành tiền xanh. Việc gạt bỏ quyền phát hành tiền tệ quốc gia của ngân hàng hoặc khôi phục việc phát hành tiền xanh của Chính phủ sẽ khiến cho (quốc gia) có thể cung ứng tiền tệ cho người dân, điều này sẽ phương hại nghiêm trọng đến lợi nhuận của ngân hàng cũng như lợi ích của những người cho vay như chúng ta. Lập tức hẹn gặp các nghị viên quốc hội ở khu vực của các ngài, yêu cầu họ bảo vệ lợi ích của chúng ta, như vậy chúng ta có thể khống chế lập pháp.

Năm 1881, trong cảnh kinh tế tiêu điều, Tổng thống thứ 20 của Mỹ là James bước lên đài chính trị và đã nhìn thấy cũng như nắm bắt được điểm cốt yếu của vấn đề. Ông nói rằng:

Ở bất cứ quốc gia nào, ai khống chế được việc cung ứng tiền tệ thì người đó trở thành người chủ tuyệt đối của các ngành công, thương nghiệp hiện có. Trong khi hiểu rõ được toàn bộ hệ thống (tiền tệ) do một thiểu số người dùng phương pháp này hay phương pháp kia không chế một cách hết sức dễ dàng, thì bạn không cần người khác nói cho bạn biết về nguồn gốc của việc lạm phát và siết chặt tiền tệ.

Lời phát biểu này mới được phát đi trong mấy tuần thì Tổng thống đã bị Charles Guiteau – một tên “mắc bệnh tâm thần” ám sát vào ngày 2 tháng 7 năm 1881. Tổng thống bị bắn hai phát, và cuối cùng qua đời ngày 19 tháng 9.

Trong suốt thế kỷ 19, các ngân hàng quốc tế đã thành công với sách lược “dùng quyền lực của đồng tiền thần thánh để thu được vương quyền thần thánh”. Tại Mỹ, “quyền lực thần thánh của đồng tiền cũng dần làm tan rã dân quyền thiêng liêng”. Sau những cuộc đọ sức kịch liệt kéo dài hàng trăm năm với Chính phủ dân cử của nước Mỹ, các ngân hàng quốc tế đã chiếm thế thượng phong. Các nhà sử học của Mỹ đã chỉ ra rằng, tỉ lệ hy sinh của các đời tổng thống Mỹ còn cao hơn nhiều so với tỉ lệ hy sinh bình quân của thuỷ quân lục chiến Mỹ.

Khi các ngân hàng nghênh ngang đắc ý đã nắm được trong tay pháp lệnh ngân hàng quốc gia năm 1863, thì mục tiêu thành lập một ngân hàng với mô hình của Ngân hàng Anh ở Mỹ chỉ còn trong gang tấc. Một ngân hàng trung ương tư hữu hoàn toàn khống chế quyền phát hành tiền tệ của nước Mỹ, một ngân hàng của các đại gia ngân hàng đã manh nha hình thành.

AI LÀ HUNG THỦ THỰC SỰ ÁM SÁ LINCOLN?

Bismarck – vị thủ tướng kiên cường và giàu lòng hy sinh của nước Đức đã từng chỉ ra một cách sắc bén rằng:

Ông ấy (Lincoln) được quốc hội trao quyền tiến hành vay tiền thông qua việc bán khoản công trái cho người dân, như vậy thì Chính phủ và quốc gia sẽ thoát được khỏi cái bẫy cài sẵn của các nhà tài chính nước ngoài. Trong khi họ (các nhà tài chính quốc tế) hiểu rõ được rằng nước Mỹ sẽ thoát khỏi vòng khống chế của họ, thì ngày chết của Lincoln chẳng còn mấy xa xôi.

Sau khi ra sắc lệnh giải phóng nô lệ da đen và thống nhất miền nam, ngay lập tức Lincoln đã tuyên bố xóa toàn bộ các khoản nợ chiến tranh mà miền nam đã gánh chịu. Các ngân hàng quốc tế chu cấp khoản lớn tài chính cho miền nam trong suốt cuộc chiến, đã bị tổn thất nghiêm trọng vì quyết định này. Để trả thù Lincoln, đặc biệt là để lật đổ chính sách mới về tiền tệ của Lincoln, họ đã tập hợp các thế lực bất mãn đối với vị tổng thống này, bí mật lên kế hoạch ám sát tổng thống. Với họ, chuyện chỉ đạo đám côn đồ ám sát tổng thống thực tế không phải là một việc khó khăn.

Sau khi Lincoln bị ám sát, dưới sự thao túng của các thế lực tài chính quốc tế, quốc hội tuyên bố phế bỏ chính sách tiền tệ mới của Lincoln, giới hạn của việc phát hành tiền tệ mới của Lincoln không được vượt quá 400 triệu đô-la.

Năm 1972, có người hỏi Bộ tài chính Mỹ rằng, với số tiền mới 450 triệu đô-la Mỹ của Lincoln phát hành, chính phủ rốt cuộc đã tiết kiệm được bao nhiêu lãi suất. Sau mấy tuần tính toán kỹ lưỡng, câu trả lời của Bộ tài chính là: nhờ tổng số tiền Lincoln tự phát hành cho Chính phủ Mỹ mà quốc gia này đã tiết kiệm được 4 tỉ đô-la lợi nhuận.

Cuộc chiến tranh nam bắc của Mỹ, về căn bản là một cuộc tranh giành lợi ích kịch liệt giữa các thế lực tài chính quốc tế cũng như những người đại diện cho các thế lực đó và Chính phủ Mỹ trong việc thống soái quyền phát hành tiền tệ quốc gia và chính sách tài chính tiền tệ của Mỹ. Trong thời gian hơn một trăm năm sau cuộc chiến tranh nam bắc, đôi bên đã tiến hành những cuộc chiến tàn khốc, tổng cộng đã có 7 tổng thống Mỹ vì cuộc chiến này mà bị ám sát, nhiều nghị sĩ bị thủ tiêu. Mãi đến năm 1913, việc thành lập hệ thống ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ đã đánh dấu cho thắng lợi mang tính quyết định của ngân hàng quốc tế.

Thật đúng như Bismarck đã nói:

Cái chết của Lincoln là sự tổn thất nghiêm trọng của thế giới cơ đốc giáo. Nước Mỹ có thể không còn ai có thể đi lại con đường vĩ đại của ông, còn các ngân hàng sẽ lại một lần nữa khống chế những ai giàu có. Tôi lo rằng các ngân hàng nước ngoài với những thủ đoạn cao siêu và tàn bạo sẽ dành được sự giàu có của nước Mỹ, sau đó dùng nó để hủy hoại nền văn minh hiện đại một cách có hệ thống.

CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG MỸ (FED): NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG TƯ HỮU

Một quốc gia công nghiệp vĩ đại bị hệ thống tín dụng khống chế một cách cứng nhắc. Sự phát triển của quốc gia này và mọi hoạt động (kinh tế) của chúng ta hoàn toàn nằm trong tay một số ít người. Chúng ta đã rơi vào thế thống trị cam go nhất, một kiểu khống chế triệt để nhất trên thế giới. Chính phủ không còn có ý kiến tự do nữa, không còn quyền định tội tư pháp nữa, không còn là chính phủ được lựa chọn bởi đa số người dân nữa, mà là chính phủ (vận hành) dưới sự cưỡng bức và ý kiến của thiểu số có quyền chi phối. Rất nhiều nhân sĩ công thương nghiệp của quốc gia này đều đang lo sợ một điều gì đó. Họ biết thứ quyền lực vô hình này được tổ chức theo cách như vậy, tĩnh lặng vô tình như vậy, phủ khắp như vậy, khóa chặt lẫn nhau như vậy, triệt để và toàn diện như vậy, đến nỗi họ không dám công khai lên án thứ quyền lực này.

Woodrow Wilson – Tổng thống thứ 28 của Mỹ

Có thể không quá khoa trương khi nói rằng, mãi đến ngày nay, ở nước ta có thể cũng chẳng có mấy nhà kinh tế học biết được một thực tế rằng, Cục dự trữ liên bang Mỹ chính là ngân hàng trung ương tư hữu. Cái gọi là “Ngân hàng dự trữ liên bang”, thực ra vừa chẳng phải là “liên bang”, mà cũng chẳng có “dự trữ”, thậm chí không đáng được xem là “ngân hàng”.

Đa số chúng ta có thể sẽ nghĩ rằng, đương nhiên chính phủ Mỹ phát hành ra đồng đô-la, nhưng trên thực tế, về cơ bản, chính phủ Mỹ không có quyền phát hành tiền tệ. Năm 1963, sau khi tổng thống Kennedy bị ám sát, chính phủ Mỹ cuối cùng đã mất đi quyền phát hành “đô-la Mỹ bạc trắng”. Muốn có được đồng đô-la, Chính phủ Mỹ cần phải đem thu nhập từ thuế tương lai (công trái) của người dân Mỹ, thế chấp cho cục dự trữ liên bang [tư hữu] Mỹ, “chứng chỉ cục dự trữ liên bang Mỹ” sẽ do cục dự trữ liên bang Mỹ phát hành, đây mới chính là “đô-la Mỹ”.

Tính chất và lai lịch của “cục dự trữ liên bang Mỹ” trong giới học thuật và giới truyền thông Mỹ, là một “vùng cấm” mọi người tự hiểu với nhau mà chẳng cần nói ra. Hằng ngày, giới truyền thông Mỹ có thể bàn tán về vô vàn vấn đề chẳng có chút quan trọng gì kiểu như “hôn nhân đồng tính”, nhưng những vấn đề quan trọng liên quan đến việc ai đang khống chế chuyện phát hành tiền tệ, liên quan đến lợi ích chi trả lợi tức các khoản vay cá nhân thì lại hầu như chẳng có chữ nào đá động đến.

Đọc đến đây, nếu bạn có cảm giác kinh ngạc, vấn đề sẽ trở nên quan trọng, trong khi bạn lại không hay biết. Chúng ta sẽ nói về bí mật của việc thành lập Cục dự trữ liên bang Mỹ – vấn đề đã bị giới truyền thông Mỹ cố ý “bỏ qua”. Khi chúng ta dùng một chiếc kính hiển vi để soi lại giây phút cuối cùng của một sự kiện trọng đại ảnh hưởng đến tiến trình lịch sử thế giới thì sự phát triển của sự kiện sẽ chính xác đến mức ta phải lấy tiếng tích tắc của đồng hồ làm đơn vị đo lường.

Ngày 23 tháng 12 năm 1913, chính phủ dân cử của Mỹ cuối cùng đã bị quyền lực đồng tiền lật đổ.

ĐẢO JEKYLL THẦN BÍ: CÁI NÔI CỦA CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG MỸ

Đêm ngày 22 tháng 11 năm 1910, một đoàn tàu rèm che kín mít chậm rãi tiến về phía Nam. Những người ngồi trong toa tàu đều là những nhà tài phiệt ngân hàng quan trọng nhất nước Mỹ, không một ai biết được mục đích chuyến đi này. Điểm dừng cuối cùng của đoàn tàu là đảo Jekyll thuộc bang Georgia xa mấy trăm dặm Anh.

Đảo Jekyll của bang Georgia là một quần đảo nghỉ đông thuộc sở hữu của những nhân vật giàu có siêu hạng ở Mỹ. Các thế lực tai to mặt lớn mà đứng dầu là J.P Morgan đã thành lập một câu lạc bộ đi săn trên đảo Jekyll. Một phần sáu của cải thế giới dồn vào tay các hội viên của câu lạc bộ này, và tư cách hội viên chỉ có thể kế thừa chứ không thể chuyển nhượng. Lúc này, câu lạc bộ nhận được thông báo có người cần sử dụng hội sở của câu lạc bộ này trong khoảng hai tuần, và như vậy, trong khoảng thời gian này, tất cả các thành viên không được phép sử dụng hội sở. Toàn bộ nhân viên phục vụ của hội sở đều là những người được bố trí đến từ đất liền, chỉ được xưng tên chứ tuyệt đối không được sử dụng họ đối với những người khách đến hội sở này. Trong phạm vi 50 dặm Anh, hội sở được đảm bảo rằng xung quanh không có sự xuất hiện của bất cứ tay săn tin nào.

Ngay sau khi công việc chuẩn bị hoàn tất, những vị khách này xuất hiện tại hội sở. Tham gia hội nghị tuyệt mật này có:

Nelson Aldrich, thượng nghị sĩ, Chủ tịch ủy ban tiền tệ quốc gia (National Monetary Commission), ông ngoại của Nelson Rockefeller

A. Piatt Andrew, trợ lý bộ trưởng bộ tài chính Mỹ

Frank Vanderlip, Chủ tịch National City Bank

Henry P. Davison, cổ đông cao cấp của công ty J.P Morgan

Charles D. Norton, Chủ tịch First National Bank

Benjamin Strong, trợ lý của J.P Morgan

và Paul Warburg, dân di cư gốc Do Thái đến từ Đức. Năm 1901, Paul đến Mỹ và hùn một khoản vốn lớn vào công ty Kuhn Loeband Company. Là đại diện của dòng họ Rothschild ở Anh và Pháp, đảm nhận chức tổng công trình sư của Cục dự trữ liên bang Mỹ kiêm chủ tịch đầu tiên Cục dự trữ liên bang Mỹ.

Những nhân vật quan trọng này đến hòn đảo nhỏ hẻo lánh mà chẳng có hứng thú gì với việc săn bắn. Họ đến đây với một nhiệm vụ chủ yếu là khởi thảo một văn kiện quan trọng: Dự luật dự trữ liên bang (Federal Reserve Act).

Paul Warburg là một cao thủ về lĩnh vực ngân hàng, tinh thông hầu như mọi khâu nhỏ trong hoạt động ngân hàng. Nếu có ai đó thắc mắc với các câu hỏi cần giải đáp, Paul không chỉ nhẫn nại trả lời mà còn giảng giải không ngớt về nguồn gốc lịch sử sâu xa của mỗi một khái niệm chi tiết. Ai cũng khâm phục kiến thức uyên bác trong lĩnh vực ngân hàng của ông. Paul hiển nhiên trở thành người khởi thảo đồng thời là người giải đáp mọi vấn đề trong việc xây dựng văn kiện.

Nelson Aldrich là người ngoại đạo duy nhất trong số những nhân vật có mặt ở đây. Ông phụ trách chỉnh sửa nội dung văn kiện sao cho phù hợp với yêu cầu chính xác của chính trị và có thể được chấp nhận ở quốc hội. Những người khác đại diện cho lợi ích của các tập đoàn ngân hàng khác nhau. Họ tiến hành tranh luận kịch liệt suốt 9 ngày liền xung quanh chi tiết phương án mà Paul đề xuất, cuối cùng đã đi đến thống nhất.

Do cuộc khủng hoảng ngân hàng năm 1907 nên trong mắt người dân Mỹ, hình ảnh của các nhà ngân hàng không còn mấy đẹp đẽ. Điều này khiến cho đa số nghị sĩ quốc hội không dám công khai ủng hộ dự luật do các nhà ngân hàng tham gia lập ra. Vì vậy, những người này không quản ngại đường xa vạn dặm, lặn lội từ New York đến hòn đảo hoang vắng này để tham gia khởi thảo văn kiện. Hơn nữa, cái tên Ngân hàng trung ương nghe có vẻ quá khoa trương. Từ thời Tổng thống Jefferson đến nay, tên gọi của Ngân hàng trung ương đều có dính dáng đến âm mưu của nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế Anh, vì thế Paul kiến nghị dùng tên “Cục dự trữ liên bang” (Federal Reserve System) để che đậy tai mắt thiên hạ. Thế nhưng, Cục dự trữ liên bang có đầy đủ mọi chức năng của một ngân hàng trung ương, và cũng giống như ngân hàng Anh, Cục dự trữ liên bang Mỹ được thiết kế theo kiểu tư nhân nắm giữ cổ phần, và ngân hàng sẽ thu được lợi ích rất lớn từ việc đó. Điều khác với ngân hàng thứ nhất và ngân hàng thứ hai là, trong cơ cấu cổ phần của Cục dự trữ liên bang Mỹ, 20% cổ phần góp vốn của Chính phủ đã bị lấy mất, nó sẽ trở thành một ngân hàng trung ương tư hữu “thuần túy”.

Nhằm che đậy bản chất thực của cục dữ trữ liên bang Mỹ cũng như để trả lời cho câu hỏi ai là kẻ khống chế cơ quan này, Paul đã khéo léo đề xuất ý kiến: “Quốc hội khống chế Cục dự trữ liên bang Mỹ, Chính phủ nắm giữ vai trò đại biểu trong hội đồng quản trị, nhưng đa số thành viên của hội đồng quản trị là do hiệp hội ngân hàng trực tiếp hoặc gián tiếp khống chế.”

Về sau, trong phiên bản cuối cùng, Paul đã đổi thành “thành viên của hội đồng quản trị do tổng thống Mỹ bổ nhiệm”, thế nhưng, chức năng chân chính của hội đồng quản trị do Hội đồng tư vấn liên bang (Federal Advisory Council) khống chế, và cùng với hội đồng quản trị, Hội đồng tư vấn liên bang sẽ định kỳ mở hội nghị “thảo luận” công việc. Thành viên của ủy ban tư vấn liên bang sẽ do chủ tịch hội đồng quản trị của 12 nhà ngân hàng dự trữ liên bang quyết định. Điểm này đã được lấp liếm trước công chúng.

Một vấn đề nan giải khác mà Paul phải đối phó là làm thế nào để che giấu sự thực rằng, nhân vật chịu trách nhiệm chủ trì Cục dự trữ liên bang là một chuyên gia kỳ cựu của ngân hàng New York. Từ thế kỷ 19 đến nay, hầu hết các thương nhân, chủ trang trại vừa và nhỏ của miền trung tây nước Mỹ đã gánh chịu đủ đại nạn của khủng hoảng ngân hàng, cho nên họ ghét cay ghét đắng các chuyên gia ngân hàng đến từ miền đông, và các nghị sĩ của những khu vực này không thể ủng hộ ngân hàng trung ương nếu như nó được chủ trì bởi một nhân vật nào đó từ ngân hàng New York. Vì vậy mà Paul đã thiết kế nên một phương án giải quyết tài tình để cho 12 nhà ngân hàng địa phương của cục dự trữ liên bang Mỹ cấu thành toàn bộ hệ thống. Ngoài những người trong giới ngân hàng, rất ít người biết được rằng, về lý thuyết, việc phát hành tiền tệ và tín dụng của Mỹ được tập trung ở New York, nhưng trên thực tế, điều này không hề diễn ra ở New York, và màn kịch này chẳng qua là do các ngân hàng thuộc cục dự trữ liên bang Mỹ đã dàn dựng nên mà thôi. Còn có một chỗ thể hiện sự suy nghĩ sâu xa của Paul – đặt trụ sở của Cục dự trữ liên bang Mỹ tại Washington – trung tâm chính trị của nước Mỹ, trong khi New York mới là trung tâm tài chính lớn của đất nước này. Mối lo ngại chính của ông xuất phát từ sự kỳ thị của dân chúng đối với các nhà ngân hàng đến từ New York.

Điều bận tâm thứ tư của Paul là làm thế nào tìm ra nhân viên quản lý cho 12 nhà ngân hàng địa phương trực thuộc Cục dự trữ liên bang Mỹ. Kinh nghiệm làm việc trong quốc hội của Nelson Aldrich cuối cùng đã giúp ông tìm được đất dụng võ. Ông chỉ ra rằng, các nghị sĩ miền trung tây nước Mỹ thường tỏ rõ mối thù địch với ngân hàng New York, và để tránh mất kiểm soát, tổng thống phải là người đứng ra bổ nhiệm vị trí chủ tịch ngân hàng địa phương và đó không phải là nhiệm vụ của quốc hội. Nhưng điều này đã tạo nên một lỗ hổng pháp luật. Điều 8 chương 1 của hiến pháp Mỹ quy định rõ ràng rằng, quốc hội chịu trách nhiệm phụ trách việc quản lý phát hành tiền tệ. Việc Cục dự trữ liên bang gạt Quốc hội ra ngoài rõ ràng đã vi phạm hiến pháp. Về sau, quả nhiên điểm này đã trở thành cái cớ để các nghị sĩ chĩa mũi dùi công kích Cục dự trữ liên bang Mỹ.

Sau khi được dàn xếp chu đáo, dự luật này nghiễm nhiên xuất hiện với hình thức mô phỏng theo sự phân quyền và cân bằng kiểm soát của hiến pháp Mỹ. Tổng thống bổ nhiệm, quốc hội thẩm duyệt, nhân sĩ độc lập nhậm chức chủ tịch hội đồng quản trị, còn các nhà ngân hàng đảm nhận vị trí cố vấn, quả là một thiết kế hoàn hảo!

BẢY NHÀ TÀI PHIỆT PHỐ WALL: NHỮNG NGƯỜI ĐIỀU KHIỂN HẬU TRƯỜNG CỦA CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG

Bảy nhân vật quan trọng của phố Wall hiện tại đã khống chế đại bộ phận các ngành công nghiệp cơ bản cũng như nguồn vốn của Mỹ. Trong đó, J.P Morgan, James J. Hill , George Berk (Chủ tịch First National Bank) trực thuộc Tập đoàn Morgan; bốn người còn lại gồm John Rockefeller, William Rockefeller, James Stillman (Chủ tịch National City Bank), Jacob Schiff (công ty Kuhn Loeb) trực thuộc Tập đoàn Standard Oil Cities Bank. Đầu mối trung tâm về vốn do họ tạo nên đang trở thành thế lực chủ yếu khống chế nước Mỹ.

John Moody – người sáng lập hệ thống đánh giá đầu tư Moody nổi tiếng, 1911

Bảy vị tai to mặt lớn của phố Wall chính là những người thực sự điều khiển việc thành lập Cục dự trữ liên bang Mỹ. Sự phối hợp nhịp nhàng bí mật giữa họ với dòng họ Rothschild của châu Âu cuối cùng đã lập lên một phiên bản của ngân hàng Anh quốc tại Mỹ.

SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA DÒNG HỌ MORGAN

Tiền thân của ngân hàng là công ty George Peabody Company của Anh không được nhiều người biết đến. George Peabody vốn là một nhà buôn hoa quả sấy khô của vùng Baltimore (Mỹ). Sau khi phất lên nhờ một số thương vụ nhỏ, vào năm 1835, George đến Luân Đôn. Chàng thương gia trẻ nhận thấy ngành tài chính là một lĩnh vực béo bở, bèn quyết định hùn vốn với một số người nữa để mở ngân hàng Merchant Bank. Đây là một nghiệp vụ “tài chính cao cấp” rất hợp thời khi đó, khách hàng chủ yếu bao gồm Chính phủ, các công ty lớn và những người rất giàu có. Họ cung cấp các khoản vay cho thương mại quốc tế, phát hành cổ phiếu và công trái, kinh doanh các loại hàng hóa chủ lực, và đây chính là tiền thân của ngân hàng đầu tư ngày nay.

Thông qua sự giới thiệu của công ty anh em nhà Brown thuộc chi nhánh Anh, George Peabody đã nhanh chóng gia nhập vào giới tài chính Anh quốc. Không lâu sau, George Peabody hết sức kinh ngạc khi nhận được thư mời đến dự tiệc từ nam tước Nathan Rothschild. Đối với chàng thương gia trẻ này thì vinh hạnh đó chẳng khác nào niềm hãnh diện của một tín đồ thiên chúa giáo được giáo hoàng tiếp kiến.

Nathan đã đi thẳng vào vấn đề bằng việc đề nghị George Peabody giúp mình làm đại diện giao tế bí mật của dòng họ Rothschild. Tuy nổi tiếng là giàu có với khối tài sản khổng lồ, song dòng họ Rothschild vẫn bị nhiều người ở châu Âu căm ghét và coi thường vì thường lừa gạt cưỡng đoạt tài sản của dân chúng. Tầng lớp quý tộc ở Luân Đôn vốn không thèm đứng chung cùng hàng ngũ với Nathan, đã năm lần bảy lượt thẳng thừng từ chối lời mời của Nathan. Dù đã tạo ra thế lực rất mạnh ở Anh quốc, nhưng dòng họ nhà Rothschild luôn có cảm giác của kẻ ngồi “chiếu dưới” vì bị giới quý tộc cô lập. Một nguyên nhân khác khiến Nathan chọn George Peabody vì ông ta là người khiêm tốn nhã nhặn, tư cách khá tốt, lại là người Mỹ, sau này còn có thể dùng vào việc lớn.

Đương nhiên là George Peabody hồ hởi đón nhận lời đề nghị của Nathan. Toàn bộ mọi kinh phí giao tế đều do Nathan chi trả, công ty của George Peabody nhanh chóng trở thành trung tâm giao tế nổi tiếng Luân Đôn. Đặc biệt là vào ngày 4 tháng 7 hàng năm, tiệc mừng nhân ngày lễ độc lập nước Mỹ đều được tổ chức tại nhà George Peabody và trở thành một sự kiện quan trọng trong giới quý tộc Luân Đôn. Đám khách khứa cũng khó mà hình dung nổi, vì sao một doanh nhân hết sức bình thường mấy năm trước lại có thể cáng đáng nổi những khoản phí chiêu đãi trong những bữa tiệc tráng lệ và xa xỉ kia.

Mãi đến năm 1854, George Peabody vẫn chỉ là một ông chủ ngân hàng nhỏ với khoản tài sản trị giá một triệu bảng Anh, nhưng chỉ trong thời gian 6 năm ngắn ngủi sau đó, khối tài sản của vị thường gia này đã đạt mức 20 triệu bảng Anh và biến ông trở thành ông chủ nhà băng có máu mặt ở Mỹ. Trong thời gian diễn ra cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1857 tại Mỹ do dòng họ Rothschild giật dây, George Peabody dốc hết tiền đầu tư vào công trái đường sắt và công trái Chính phủ Mỹ trong khi các ông chủ nhà băng Anh đột nhiên bán tống bán tháo tất cả công trái có dính dáng đến Mỹ. Cũng trong giai đoạn này, George Peabody lâm vào cảnh khó khăn nghiêm trọng. Điều kỳ lạ là, khi George mấp mé bên bờ vực phá sản, ngân hàng Anh giống như thiên sứ từ trên trời rơi xuống đã ngay lập tức cung cấp cho ông ta một khoản vay tín dụng trị giá 800 nghìn bảng Anh. Chính điều này đã giúp George phục hồi nhanh chóng. Và thế là, chẳng hiểu sao, một người cẩn trọng như George Peabody lại quyết định mua vào một lượng lớn các loại công trái đang bị các nhà đầu tư Mỹ bán đổ bán tháo như rác rưởi. Cuộc khủng hoảng năm 1857 hoàn toàn không giống với cuộc suy thoái năm 1837. Chỉ trong một năm thì nền kinh tế Mỹ đã hoàn toàn thoát khỏi bóng mây của sự suy thoái. Kết quả là các loại công trái Mỹ đã khiến cho ông nhanh chóng trở thành người giàu có siêu cấp, điều này tương tự với chiến dịch công trái Anh của Nathan năm 1815 khiến người ta khiếp đảm.

Vì George Peabody không có con nối dõi nên sản nghiệp khổng lồ kia cũng chẳng có ai thừa kế. Chính vì thế mà ông rất khổ tâm và cuối cùng quyết định mời chàng trai trẻ tuổi Junius Morgan nhập hội làm ăn. Sau khi George Peabody nghỉ hưu, Junius Morgan đã nắm giữ toàn bộ việc làm ăn và đổi tên công ty này thành Junius S. Morgan and Company, sau đó đổi tên chi nhánh ở Mỹ thành J. P. Morgan and Company. Năm 1869, trong cuộc họp mặt ở Luân Đôn với gia tộc Rothschild, dòng họ Morgan đã hoàn toàn kế thừa mối quan hệ của George Peabody với gia tộc Rothschild và đưa mối quan hệ hợp tác này phát triển lên một tầm cao mới. Năm 1880, J.P Morgan đầu tư một lượng lớn vốn nhằm tổ chức lại hoạt động thương nghiệp của công ty đường sắt.

Ngày 5 tháng 2 năm 1891, gia tộc Rothschild và một số nhà ngân hàng khác ở Anh đã thành lập một tổ chức bí mật lấy tên là “tập đoàn hội nghị bàn tròn”. Ở Mỹ, một tổ chức tương tự cũng được thành lập, đứng đầu chính là dòng họ Morgan. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, “Tập đoàn hội nghị bàn tròn” của Mỹ được đổi tên thành “Hiệp hội ngoại giao” (Council on Foreign Relation), còn ở Anh thì đổi thành “Hiệp hội sự vụ quốc tế hoàng gia” (Royal Institute of International Affairs). Rất nhiều quan chức của Chính phủ hai nước Anh và Mỹ đều là những người được lựa chọn từ hai hiệp hội này.

Năm 1899, J.P Morgan và Drexel đến Luân Đôn tham gia đại hội các nhà ngân hàng quốc tế. Ngay khi trở về, J.P Morgan đã được chỉ định làm đại diện cao cấp cho lợi ích của dòng họ Rothschild ở Mỹ. Hội nghị Luân Đôn đi đến một thống nhất rằng, các công ty J.P Morgan (New York), Drexel (Philadenphia), Grenfell (Luân Đôn), Morgan Harjes Cie (Paris), M.M.Warburg Company (Đức) và Mỹ, gắn kết hoàn toàn với dòng họ Rothschild.

Năm 1901, J.P Morgan đã mua lại công ty gang thép Carnegie với giá 500 triệu đô la, sau đó cơ cấu lại toàn bộ tổ chức này và biến nó thành Công ty gang thép Mỹ (United States Steel Corporation) có giá trị thị trường hơn 1 tỉ đô-la. J.P Morgan được coi là người giàu nhất trên thế giới thời đó, thế nhưng, căn cứ theo báo cáo của Ủy ban kinh tế lâm thời quốc gia (Temporary National Economic Committee), thì ông ta chỉ năm giữ 9% cổ phần của công ty mình. Xem ra, Morgan với tiếng tăm lừng lẫy vẫn chỉ là một nhân vật diễn trước sân khấu.

ROCKEFELLER: VUA DẦU MỎ

John Rockefeller cha là một nhân vật ít nhiều gây tranh cãi trong lịch sử nước Mỹ, bị thiên hạ chụp mũ là “người máu lạnh”. Tên tuổi của ông gắn liền với công ty dầu mỏ nổi tiếng thế giới.

Việc buôn bán dầu mỏ của John Rockefeller bắt đầu từ thời kỳ nội chiến Mỹ (1861 – 1865), và mãi đến năm 1870, khi thành lập công ty dầu mỏ thì quy mô làm ăn của ông vẫn thuộc vào hàng thường thường bậc trung. Từ sau khi nhận được một khoản cho vay cơ bản của ngân hàng đô thị quốc gia Cleveland, trong nháy mắt, dường như Rockefeller đã tìm được cảm giác đích thực của mình. Dã tâm cạnh tranh theo luật rừng của nhà tài phiệt này đã vượt xa sức tưởng tượng của mọi người. Nhận thấy ngành công nghiệp luyện dầu rất có triển vọng tốt với mức lợi nhuận ngắn hạn rất cao, nhưng Rockefeller cũng đồng thời nhìn thấy một sự thật hiển nhiên: đó là sự cạnh canh trong lĩnh vực này diễn ra kịch liệt mà không có sự kiểm soát, vì thế, sớm hay muộn, các doanh nghiệp tham gia vào cuộc chơi này cũng sẽ rơi vào cảnh cạnh tranh theo kiểu tự sát. Và để tồn tại, chỉ có duy nhất một cách: tiêu diệt đối thủ cạnh tranh bằng mọi giá, không từ bất cứ thủ đoạn nào.

Trước hết, Rockefeller khống chế công ty trung gian nhưng không để cho ai biết rằng mình đã đề xuất mua lại đối thủ cạnh tranh với giá thấp. Nếu cự tuyệt, đối thủ cạnh tranh sẽ đối mặt với cuộc chiến giá cả thảm khốc, cho đến khi đối thủ phủ phục hoặc phá sản mới thôi. Nếu không hiệu quả, sau cùng Rockefeller sẽ sử dụng đến chiêu sở trường của mình – bạo lực: đánh công nhân của đối thủ cạnh tranh, phóng hỏa thiêu rụi nhà xưởng của đối thủ. Sau mấy hiệp như vậy, số đối thủ may mắn sống sót chỉ còn đếm trên đầu ngón tay. Hành vi lũng đoạn bá đạo như vậy, tuy đã gây nên sự căm phẫn trong giới kinh doanh, nhưng cũng đem lại sự hứng thú cao độ cho nhà ngân hàng New York. Các nhà tài phiệt ngân hàng ham mê trò lũng đoạn đã rất hân hoan trước khả năng của Rockefeller.

Dòng họ Rothschild vẫn muốn tìm mọi cách khống chế nước Mỹ đang ngày càng lớn mạnh. Tuy nhiên, các mánh khóe của họ tộc này sớm muộn đều thất bại. Việc khống chế một quốc vương ở châu Âu đơn giản hơn rất nhiều so với việc khống chế một Chính phủ dân cử. Sau cuộc nội chiến của Mỹ, dòng họ Rothschild bắt đầu sắp xếp kế hoạch khống chế Mỹ. Về tài chính thì đã có công ty Morgan và công ty Kuhn Loeb, còn trong giới công nghiệp vẫn chưa có ai thích hợp. Những gì mà Rockefeller làm đã thắp lên một tia hy vọng cho dòng họ Rothschild. Nếu như được tiếp thêm một lượng tài chính lớn thì thực lực của nhà Rockefeller sẽ vượt rất xa so với một vùng Cleveland nho nhỏ.

Rothschild đã cử Jacob Schiff của công ty Kuhn Loeb – một chiến lược gia quan trọng nhất của họ về tài chính ở Mỹ, tham gia vào kế hoạch này. Năm 1875, Jacob Schiff thân chinh đến Cleveland để chỉ bảo Rockefeller cách thức triển khai các bước tiếp theo trong kế hoạch khống chế nước Mỹ. Cùng với sự xuất hiện của Jacob Schiff là một lợi thế mà Rockefeller có nằm mơ cũng không dám nghĩ đến: thông qua ngân hàng Morgan và công ty Kuhn Loeb, Rothschild đã khống chế 95% thị phần vận chuyển đường sắt Mỹ, đồng thời Jacob Schiff đang có dự định thành lập công ty South Improvement Company nhằm cung cấp dịch vụ vận chuyển giá rẻ cho công ty dầu mỏ của Rockefeller, mà dưới sự khống chế giá cước vận chuyển này, chẳng có mấy công ty luyện dầu có thể tiếp tục sinh tồn. Rất nhanh chóng, Rockefeller đã lũng đoạn hoàn toàn ngành dầu mỏ của Mỹ, trở thành “Vua dầu mỏ” thật sự cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

JACOB SCHIFF: CHIẾN LƯỢC GIA TÀI CHÍNH CỦA ROTHSCHILD

Mối quan hệ mật thiết giữa hai dòng họ Rothschild và Schiff có thể được truy ngược về năm 1785, khi Rothschild cha chuyển đến một tòa dinh thự 5 tầng ở Franfurk, và trong nhiều năm liền sống chung với dòng họ Schiff. Cùng là các nhà ngân hàng gốc Do Thái ở Đức nên hai dòng họ này có mối quan hệ hữu hảo kéo dài hàng trăm năm.

Năm 1865, tròn 18 tuổi, Jacob Schiff đến Mỹ sau một thời gian thực tập ở ngân hàng Rothschild (Anh). Sau khi tổng thống Lincohn bị ám sát, Jacob làm kế toán cho các ngân hàng châu Âu của Mỹ, đồng thời cùng thúc đẩy việc xây dựng chế độ ngân hàng trung ương tư hữu của Mỹ. Một mục đích khác của Jacob chính là phát hiện, bồi dưỡng kiến thức cho đại diện của ngân hàng châu Âu, đồng thời đưa họ gia nhập vào các vị trí quan trọng như Chính phủ, tòa án, ngân hàng, công nghiệp, để chờ thời cơ.

Ngày 1 tháng 1 năm 1875, Jacob liên kết với công ty Kuhn Loeb, và từ đây trở thành thành viên chủ chốt của công ty. Dưới sự ủng hộ của Rothschild hùng mạnh, cuối cùng công ty Kuhn Loeb đã trở thành một trong những ngân hàng đầu tư nổi tiếng nhất cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.

JAMES J.HILL: VUA ĐƯỜNG SẮT

Xây dựng đường sắt là ngành công nghiệp quan trọng đòi hỏi nguồn tài chính lớn. Sự phát triển của ngành công nghiệp đường sắt khổng lồ tại Mỹ chủ yếu dựa vào nguồn tiền từ thị trường vốn của Anh quốc và các quốc gia khác ở châu Âu. Khống chế việc phát hành công trái đường sắt Mỹ ở châu Âu chính là thủ đoạn của các nhà tài phiệt nhằm nắm giữ số phận của ngành công nghiệp này.

Năm 1873, các nhà ngân hàng quốc tế đột ngột siết chặt tài chính đối với Mỹ đồng thời bán tháo công trái của Mỹ. Điều này khiến cho công trái đường sắt Mỹ lâm vào cảnh chợ chiều. Ngay khi cuộc khủng hoảng kết thúc vào năm 1879, dòng họ Rothschild lập tức trở thành chủ nợ lớn nhất của ngành đường sắt Mỹ. Chỉ cần cao hứng một chút, nhà tài phiệt này có thể bóp chết mạch máu tài chính của bất kỳ công ty đường sắt nào của Mỹ. Trong bối cảnh đó, James J. Hill – một thương gia khởi nghiệp với nghề vận chuyển đường sắt bằng hơi nước và than đá – buộc lòng phải đầu quân dưới trướng của các nhà tài chính để có thể sinh tồn và lớn mạnh trong sự cạnh tranh khốc liệt của ngành đường sắt. Morgan chính là chỗ dựa tài chính đối với ông ta. Với sự ủng hộ của Morgan, James J. Hill đã thực hiện kế hoạch thôn tính hàng loạt công ty đường sắt đang lâm vào cảnh phá sản sau cuộc khủng hoảng năm 1873.

Đến năm 1893, giấc mơ được nắm giữ ngành đường sắt xuyên Mỹ của James J. Hill cuối cùng đã trở thành hiện thực. Khi tranh giành quyền khống chế đường sắt miền tây (Chicago, Burlington and Quincy Railroad), James J. Hill đã gặp phải một đối thủ rất mạnh – Liên hiệp đường sắt Thái Bình Dương (Union Pacific Railroad) do tập toàn tài chính Rockefeller đỡ đầu. Liên hiệp này đã bất ngờ tấn công ông trùm vận tải đường sắt bằng việc bí mật thu mua cổ phiếu của công ty Northern Pacific do James J. Hill kiểm soát. Khi phát hiện ra vấn đề thì James J. Hill đã sắp mất quyền kiểm soát công ty. James J. Hill lập tức cầu viện khẩn cấp ông chủ Morgan lúc này đang trong kỳ nghỉ mát ở châu Âu. Morgan lập tức ra lệnh cho thuộc hạ phản kích lại sự khiêu chiến của Rockefeller. Trong một thời gian dài, thị trường cổ phiếu phố Wall như lên cơt sốt, nhà đầu tư tranh nhau mua cổ phiếu của công ty đường sắt Northern Pacific như ăn mày cướp cháo thí khiến mỗi cổ phiếu có khi đã nhảy lên mức 1000 USD.

Hai con hổ đánh nhau ắt có con bị thương, cuối cùng các nhà ngân hàng quốc tế không thể không ra mặt điều đình, và kết quả cuối cùng là một công ty cổ phần chứng khoán miền Bắc (Northern Securities Company) được thành lập, hai con hổ cùng nhau kiểm soát ngành vận chuyển đường sắt Bắc Mỹ. Ngay trong ngày thành lập công ty này, tổng thống McKinley bị ám sát, phó tổng thống Roosevelt cha lên kế nhiệm. Dưới sự phản đối quyết liệt của Roosevelt cha, công ty chứng khoán miền Bắc bị “đạo luật chống độc quyền” được quốc hội Mỹ thông qua năm 1890 cưỡng chế giải thể. Sau đó, James J. Hill quay hướng đầu tư về miền Nam, nuốt gọn ngành vận chuyển đường sắt từ Colorado thẳng đến Texas. Đến khi qua đời vào năm 1916, James J. Hill đã tích góp được một tài sản lên đến 53 triệu đô la.

ANH EM NHÀ WARBURG

Năm 1902, hai anh em Paul và Felix từ Franfurk (Đức) di cư sang Mỹ. Hai chàng trai này xuất thân trong một gia đình có truyền thống về nghề ngân hàng, rất tinh thông trong lĩnh vực này, đặc biệt là Paul, người được gọi là cao thủ trong giới tài chính thời đó. Rothschild tỏ ra rất xem trọng tài năng của Paul nên đã đặc phái hai anh em từ ngân hàng của dòng họ Warburg (M.M.Warburg and Co) đến Mỹ vốn lúc này đang rất cần nhân tài.

Lúc này, dòng họ Rothschild thúc đẩy kế hoạch ngân hàng trung ương tư hữu ở Mỹ đã gần cả trăm năm, sụt sùi nhiều phen mà chưa được như ý. Lần này, Paul sẽ đảm nhận nhiệm vụ chủ công. Sau khi đến Mỹ được một thời gian, Paul đã kết giao với công ty Kuhn Loeb của Jacob Schiff, đồng thời cưới con gái của vợ chồng Schiff, còn Felix cũng đã cưới con gái của Schiff.

Colonel Ely Garrison – cố vấn tài chính suốt hai đời tổng thống Roosevelt (cha) và Wilson đã nhận xét rằng, “Aldrich đang gặp phải sự phản đối trên toàn quốc, chính ngài Paul Warburg đã cơ cấu lại đề án Cục dự trữ liên bang Mỹ. Trí tuệ thiên tài đằng sau kế hoạch này đều bắt nguồn từ Alfred Rothschild của Luân Đôn.”

TUYẾN TIỀN TIÊU CỦA VIỆC XÂY DỰNG CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG MỸ: CUỘC KHỦNG HOÀNG NGÂN HÀNG NĂM 1907

Năm 1903, Paul đem cương lĩnh hành động với các chỉ dẫn cách thức áp dụng những “kinh nghiệm tiên tiến” của các ngân hàng trung ương châu Âu đến nước Mỹ và trao cho Jacob Schiff. Sau đó, tài liệu này lại được trao cho James Stillman – CEO của National Citi Bank (sau này là ngân hàng Hoa Kỳ) và nhóm các nhà ngân hàng của New York. Mọi người đều cảm thấy như được khai sáng nhờ tư tưởng của Paul.

Vấn đề là sự phản đối của dân chúng đối với ngân hàng trung ương tư hữu tăng lên rất mạnh. Giới công nghiệp cũng như chủ các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất ác cảm với các nhà ngân hàng New York. Bất cứ đề án nào có liên quan đến ngân hàng trung ương tư hữu do các nhà ngân hàng đề xuất đều bị các nghị sĩ quốc hội tránh né giống như tránh bệnh truyền nhiễm vậy. Trong một bầu không khí khó chịu mang đậm tính chính trị như vậy, việc thông qua đề án ngân hàng trung ương nhằm tạo ra lợi thế cho các nhà ngân hàng quả thật là một điều vô cùng khó khăn.

Để xoay chuyển tình thế bất lợi, một cuộc khủng hoảng tài chính khổng lồ đã bắt đầu được nghĩ đến. Trước hết, trong dư luận bắt đầu xuất hiện những khái niệm tài chính mới. Ngày 6 tháng 1 năm 1907, một bài viết của Paul với tiêu đề “Khuyết điểm và Nhu cầu của hệ thống ngân hàng chúng ta” (Defects and Needs of Our Banking System) đã được công bố để rồi từ đây, Paul trở thành người cổ súy hàng đầu cho chế độ ngân hàng trung ương ở Mỹ. Không lâu sau đó, tại hội nghị dành cho các thương gia New York, Jacob Schiff đã tuyên bố rằng “nếu không đủ sức kiểm soát nguồn vốn tín dụng, ngân hàng trung ương của chúng ta sẽ phải trải qua một cuộc khủng hoảng tài chính ghê gớm với tầm ảnh hưởng sâu rộng nhất.”

Giống như thời kỳ 1837, 1857, 1873, 1884 và 1893, các nhà ngân hàng đã sớm nhìn ra hiện tượng bong bóng xuất hiện trong sự phát triển quá nóng của nền kinh tế, và đây cũng là kết quả tất yếu của việc không ngừng nới lỏng vòng quay lưu chuyển tiền tệ. Nói một cách hình tượng, toàn bộ quá trình này giống như việc nuôi cá trong hồ. Việc chế nước vào hồ cá cũng giống như chuyện nới lỏng vòng quay lưu chuyển tiền tệ hay bơm một lượng lớn tiền vào nền kinh tế. Sau khi nhận được một lượng lớn tiền được bơm vào này, dưới sự mê hoặc của tiền bạc, các ngành các giới bắt đầu ngày đêm khổ sở, nỗ lực sáng tạo ra của cải, và quá trình này giống như việc cá trong hồ cá ra sức hấp thụ các thành phần dinh dưỡng để ngày càng béo mập. Khi nhận thấy thời cơ thu nhập đã chín muồi, các nhà ngân hàng sẽ đột ngột siết chặt vòng quay lưu chuyển tiền tệ, rút cạn nước trong hồ, và phần lớn cá trong hồ lúc này chỉ biết tuyệt vọng chờ đợi giây phút bị tóm gọn.

Nhưng chỉ có các ông trùm ngân hàng lớn nhất mới biết được đâu là thời điểm bắt đầu rút nước vớt cá. Ngay sau khi một quốc gia thành lập chế độ ngân hàng trung ương tư hữu, việc kiểm soát quá trình rút nước hớt cá của đám tài phiệt ngân hàng lại càng trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Quy trình phát triển, suy thoái kinh tế, tích lũy và bốc hơi tài sản đều là kết quả tất yếu từ việc “nuôi dưỡng” một cách khoa học của các nhà ngân hàng.

Morgan và các nhà ngân hàng quốc tế sau lưng ông ta đã tính toán một cách chính xác thành quả dự tính của cơn bão táp tài chính lần này. Trước hết là trò “rung cây dọa khỉ”, làm chấn động xã hội Mỹ, để “thực tế” chỉ rõ rằng một xã hội không có ngân hàng trung ương sẽ yếu ớt đến thế nào. Tiếp đến là trò bóp nghẹt và sáp nhập các đối thủ cạnh tranh vừa và nhỏ, đặc biệt là những công ty đầu tư ủy thác mua bán, đang khiến các nhà ngân hàng khó chịu.

Các công ty đầu tư ủy thác thời đó đang nắm giữ nhiều nghiệp vụ mà ngân hàng không thể kinh doanh, trong khi đó, Chính phủ lại hết sức thông thoáng về mặt quản lý. Tất cả những điều này khiến cho các công ty đầu tư ủy thác thu nhận nguồn vốn xã hội quá mức và đầu tư vào các ngành nghề có rủi ro cao hay thị trường cổ phiếu. Đến khi cuộc khủng hoảng bùng phát vào tháng 10 năm 1907, khoảng một nửa các khoản gửi ngân hàng ở New York đều bị các công ty đầu tư ủy thác gán nợ với lãi suất cao để đầu tư vào thị trường cổ phiếu và công trái có mức rủi ro cao, và như vậy, cả thị trường tài chính rơi vào trạng thái đầu cơ cực độ.

Trong suốt mấy tháng trước thời gian này, Morgan đi “nghỉ mát” liên tục giữa Luân Đôn và Paris. Theo sự hoạch định công phu của các nhà tài chính quốc tế, Morgan trở về Mỹ. Không lâu sau, ở New York bỗng nhiên có tin đồn rằng Knickerbocker Trust – một công ty ủy thác mua bán lớn thứ ba nước Mỹ sắp phá sản. Lời đồn đại như vi rút độc hại lan ra khắp New York với tốc độ chóng mặt. Những người có tài khoản tiết kiệm ở ngân hàng vô cùng hoảng sợ chen chúc nhau sắp hàng suốt sáng thâu đêm trước cửa các công ty ủy thác mua bán để chờ rút hết tiền trong tài khoản của họ. Còn ngân hàng thì yêu cầu các công ty ủy thác mua bán này phải lập tức hoàn nợ. Do phải đối mặt với sức ép từ hai phía nên các công ty đâu tư ủy thác chỉ còn biết cách vay tiền thị trường cổ phiếu (Margin Loan), lãi suất vay trong nháy mắt đã nhảy lên cái giá trời ơi 150%. Đến ngày 24 tháng 10, giao dịch thị trường cổ phiếu hầu như rơi vào trạng thái đóng băng.

Lúc này, Morgan xuất hiện với bộ mặt của một vị chúa cứu thế. Vị chủ tịch Sở giao dịch chứng khoán New York tìm đến phòng làm việc của Morgan cầu cứu. Với giọng run rẩy, ông ta cho Morgan biết rằng nếu trước ba giờ chiều mà không thể tập trung đủ 25 triệu đô la thì ít nhất 50 doanh nghiệp sẽ phá sản, và ngoài việc đóng cửa sở giao dịch ra, ông ta không còn lựa chọn nào khác. Hai giờ chiều, Morgan triệu tập khẩn cấp hội nghị các nhà ngân hàng, và trong vòng 16 phút, các nhà ngân hàng đã gom đủ tiền. Morgan lập tức cho người đến sở giao dịch chứng khoán tuyên bố sẽ mở rộng biên độ cho vay với lãi suất 10%, cả sở giao dịch ngay tức khắc vang lên một tràng hoan hô. Chỉ trong một ngày, nguồn vốn cứu trợ khẩn cấp đã hết veo, lãi suất lại bắt đầu sốt mạnh. Tám nhà ngân hàng và công ty ủy thác mua bán đã đóng cửa. Morgan vội tìm đến ngân hàng thanh toán New York, yêu cầu phát hành ngân phiếu định mức – một nguồn tiền tạm thời – để ứng phó với sự thiếu hụt hiện kim nghiêm trọng.

Thứ bảy ngày 2 tháng 11, Morgan bắt đầu triển khai kế hoạch mà ông đã nung nấu từ lâu nhằm cứu vãn công ty Mooreand Schley đang chao đảo trong mưa gió. Công ty này đã lún sâu vào khoản nợ 25 triệu USD, sắp phải đóng cửa. Nhưng công ty này lại là chủ nợ chính của Công ty Tennessee Coal and Iron Company, và nếu công ty này phải tuyên bố phá sản thì thị trường cổ phiếu New York sẽ hoàn toàn sụp đổ, hậu quả liên quan sẽ khó lường hết. Morgan cho mời tất cả các nhân vật tai to mặt lớn trong giới tài chính New York đến thư viện của ông, các nhà ngân hàng thương mại được bố trí trong phòng sách phía đông, trong khi ông tổng của công ty ủy thác mua bán được sắp xếp ở phòng sách phía tây, còn các nhà tài chính đứng ngồi không yên lo cho số phận của mình theo sự sắp xếp của Morgan.

Morgan thừa biết rằng nguồn tài nguyên khoáng sắt và than đá của các bang Nash, Alabama, Georgia thuộc quyền nắm giữ của công ty Tennessee Coal and Iron Company sẽ giúp tăng cường vị thế bá chủ gang thép do Margan dựng nên. Dưới sự chế ước của pháp lệnh chống lũng đoạn, Morgan không thể nuốt trôi miếng mồi béo bở này, mà cuộc khủng hoảng lần này đã đem đến cho ông ta một cơ hội hiếm có. Điều kiện của Morgan là, để cứu vãn công ty Tennessee Coal and Iron Company cũng như cả ngành ủy thác mua bán, các công ty ủy thác mua bán cần phải huy động nguồn vốn 25 triệu đô la đồng thời mua lại quyền nợ của Công ty khai khoáng và luyện thép Tennessee từ tay Moore và Schley. Cuối cùng, dưới áp lực phá sản cận kề và sự mệt mỏi do lo nghĩ, các ông chủ của các công ty đầu tư đã phải đầu hàng Morgan.

Ngay sau khi thâu tóm được miếng mồi béo là Công ty Tennessee Coal and Iron này, Morgan vui mừng khôn xiết, nhưng vẫn còn một cửa ải cuối cùng phải vượt qua – tổng thống Roosevelt (cha), người luôn luôn phản đối tình trạng lũng đoạn. Tối chủ nhật ngày 3 tháng 11, Morgan phái người đến Washington ngay trong đêm với nhiệm vụ phải lấy được phê chuẩn của tổng thống trước khi thị trường cổ phiếu mở cửa vào sáng thứ hai. Ngân hàng khủng hoảng, hoàng loạt doanh nghiệp đóng cửa, người dân tức giận vì đã mất đi tất cả của cải. Điều này đã tạo nên sự khủng hoảng trong chính quyền khiến cho Roosevelt (cha) không thể không dựa vào sức mạnh của Morgan để ổn định đại cuộc, trong thời khắc cuối cùng, ông ta đã buộc phải đặt bút ký vào bản hạ thành liên minh. Khi đó chỉ còn 5 phút nữa là đến giờ thị trường cổ phiếu ngày thứ hai mở cửa!

Tin tức nhanh chóng lan khắp thị trường New York.

Morgan đã mua lại Công ty Tennessee Coal and Iron với giá siêu rẻ 45 triệu đô-la, trong khi giá trị thực của công ty này theo tính toán của John Moody ít nhất cũng khoảng 1 tỉ đô-la

Mỗi một cuộc khủng hoảng tài chính đều là định hướng chính xác cho sự bùng nổ những âm mưu đã nung nấu từ lâu, lâu đài tài chính mới tinh nguy nga rực rỡ luôn là được xây trên đống hoang tàn đổ nát của hàng ngàn hàng vạn người phá sản.

TỪ CHẾ ĐỘ BẢN VỊ VÀNG ĐẾN TIỀN GIẤY – BƯỚC CHUYỂN LỚN TRONG THẾ GIỚI QUAN CỦA CÁC NHÀ NGÂN HÀNG

“Cục dự trữ liên bang Mỹ và các nhà tài phiệt ngân hàng nắm giữ cục dự trữ liên bang có thể dùng khả năng điều chỉnh lãi suất nhẹ nhàng để khiến cho giá thị trường dao động lên xuống một cách hài hòa như con lắc, cũng có thể điều chỉnh mạnh lãi suất để khiến cho giá cả thị trường dao động dữ dội, bất kể là tình hình nào, nó sẽ nắm giữ tin tức nội bộ của tình hình tài chính và biết trước sự thay đổi sắp đến của sự việc. Đây là điều mà không có một chính phủ nào có thể có được, quyền biết trước (thông tin thị trường) kỳ lạ nhất và nguy hiểm nhất mà giai cấp đặc quyền thiểu số nắm giữ. Hệ thống này là thuộc tư hữu, toàn bộ mục đích vận hành của nó chính là lợi dụng tiền của người khác để thu được lợi nhuận lớn nhất có thể. Họ biết được khi nào thì có thể tạo ra khủng khoảng để đạt đến tình hình có lợi nhất đối với họ. Tương tự, họ cũng biết phải dừng khủng hoảng vào lúc nào là thích hợp nhất. Khi tài chính được khống chế thì việc lạm phát tiền tệ và siết chặt tiền tệ đều có hiệu suất như nhau đối với mục đích của họ.”

Hạ nghị sĩ Charles Lindbergh

Từ cuối thế kỷ 19, trong nhận thức của các nhà ngân hàng quốc tế đối với tiền bạc lại có thêm một sự khác biệt mới.

Châu Âu bước sang thế kỷ 20, các nhà tài phiệt ngân hàng đã tìm ra một thể chế tiền tệ pháp định hiệu quả cao hơn và cũng phức tạp hơn. Tiền tệ pháp định đã thoát ly triệt để khỏi sự khống chế cứng rắn của vàng và bạc đối với tổng lượng tiền cho vay, khiến cho việc khống chế tiền tệ càng thêm mềm dẻo nhưng cũng kín đáo hơn. Trong khi hiểu được rằng lợi ích thu được từ việc tăng cường cung ứng tiền tệ vô hạn tổn thất hơn rất nhiều so với lợi tức các khoản vay mà lạm phát tiền tệ đem lại, các nhà ngân hàng bèn lập tức trở thành những người ủng hộ cuồng nhiệt nhất cho tiền tệ pháp định. Bằng việc phát hành thêm tiền với tốc độ nhanh mạnh, các nhà ngân hàng đã tước đoạt toàn bộ của cải giá trị nhất của dân chúng trên cả nước, mà so với phương thức ngân hàng cưỡng chế phát mãi tài sản của người khác, thì lạm phát tiền tệ “văn minh” hơn nhiều, đồng thời cũng ít gặp phải sự kháng cự của người dân hơn, thậm chí còn khó mà phát hiện ra.

Dưới sự tài trợ của các nhà ngân hàng, các nghiên cứu kinh tế học về lạm phát tiền tệ dần chuyển hướng sang quỹ đạo của trò chơi số học đơn thuần. Khái niệm lạm phát (Currency Inflation) do việc phát hành thêm tiền giấy gây nên đã hoàn toàn bị lý luận lạm phát giá cả (Price Inflation) che khuất.

Lúc này, ngoài chế độ dự trữ vàng cục bộ (Fractional Reserve) cũng như việc cắt đứt mối quan hệ giữa tiền tệ và công trái quốc gia, các nhà ngân hàng lại có thêm một công cụ lợi hại hơn: lạm phát tiền tệ (Currency Inflation). Từ đây, các nhà ngân hàng đã thực hiện sự chuyển biến đầy kịch tính từ người bảo vệ vàng trở thành kẻ thù không đội trời chung đối với vàng.

Bình luận của Keynes đối với lạm phát tiền tệ có thể nói là vô cùng sắc bén “Áp dụng biện pháp này, Chính phủ có thể tận thu toàn bộ của cải của người dân một cách bí mật mà khó bị phát giác, trong một triệu người thật khó có một người có thể phát hiện ra hành vi ăn cắp này.”

Nói một cách chính xác thì việc sử dụng biện pháp này ở Mỹ không phải là cục dự trữ liên bang tư hữu Mỹ mà là Chính phủ.

CUỘC TRANH CỬ TỔNG THỐNG NĂM 1912

Thứ Ba, vị hiệu trưởng của Trường Đại học Princeton sẽ trúng cử thống đốc bang New Jersey của các bạn. Tháng 11 năm 1912, ông ta sẽ đắc cử tổng thống Hoa Kỳ. Tháng 3 năm 1917, ông ta sẽ tiếp tục tái đắc cử thêm một nhiệm kỳ nữa. Và đó sẽ là một trong những tổng thống vĩ đại nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.

Bài phát biểu của Rabbi Stephen ở New Jersey năm 1910

Wise – người sau này trở thành cố vấn thân cận của tổng thống Wilson – có thể dự đoán chính xác kết quả tổng tuyển cử bầu tổng thống trước hai năm, thậm chí là kết quả bầu thổng thống của 6 năm sau, hoàn toàn không phải vì trong tay ông ta thật sự có một quả cầu thần kỳ của các phù thủy, mà bởi vì mọi kế hoạch đều là việc đã được các nhà ngân hàng vạch ra sẵn.

Không ngoài dự tính của các nhà ngân hàng quốc tế, quả thực cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1907 đã gây chấn động rất lớn đến xã hội Mỹ. Sự phẩn nộ của dân chúng đối với công ty đầu tư ủy thác, sự hoang mang đối với việc các ngân hàng đóng cửa, sự dè chừng và sợ hãi đối với thế lực của các ông trùm tài chính phố Wall hòa vào nhau tạo thành trào lưu phản đối mạnh mẽ mọi sự lũng đoạn tài chính đã cuốn cả nước Mỹ vào cuộc.

Woodrow Wilson – hiệu trưởng Trường đại học Princeton – chính là một phần tử sục sôi phản đối lại sự lũng đoạn tài chính đó. Frank Vanderlip – Chủ tịch National City Bank đã từng nói rằng: “Tôi viết thư mời Woodrow Wilson – hiệu trưởng Trường đại học Princeton tham gia một buổi dạ tiệc và phát biểu diễn thuyết. Để cho ông ta biết được đây là một cơ hội trọng đại, tôi đã nói rằng thượng nghị sĩ Aldrich cũng phải đến tham dự và phát biểu diễn thuyết. Câu trả lời của tiến sĩ Wilson đã khiến tôi kinh ngạc, ông ta đã thẳng thừng từ chối phát biểu diễn thuyết chung với thượng nghị sĩ Aldrich.”

Thượng nghị sĩ Aldrich khi đó là người rất có thế lực với 40 năm làm việc trong quốc hội nhưng có đến 36 năm ở vị trí thượng nghị sĩ, lại là Chủ tịch ủy ban tài chính thượng viện có quyền lực rất lớn, bản thân là cha vợ của Johan Rockefeller con, có mối qua lại vô cùng mật thiết với giới ngân hàng phố Wall. Năm 1908, ông ta đã đề nghị rằng, trong tình huống khẩn cấp, ngân hàng có thể phát hành tiền tệ, và dùng phiếu công trái của Chính phủ liên bang, Chính phủ bang và Chính phủ địa phương cùng với phiếu công trái đường sắt làm tài sản thế chấp. Hay thật, rủi ro đã có Chính phủ và người dân cáng đáng, còn chỗ ngon lành thì các nhà ngân hàng hưởng cả, điều này khiến người ta không thể không bái phục thủ đoạn của phố Wall. Cái đề án này được gọi là “Đạo luật tiền tệ khẩn cấp” (Emergency Currency Act), và trở thành cơ sở lập pháp cho đề án cục dự trữ liên bang Mỹ 5 năm sau đó. Thượng nghị sĩ Aldrich được coi là người phát ngôn của phố Wall.

Woodrow Wilson tốt nghiệp đại học Princeton năm 1879, sau đó học thêm ngành luật ở đại học Virginia, vào năm 1886 bảo vệ thành công luận án tiến sĩ ở đại học John Hopkins. Năm 1902, Woodrow Wilson chính thức trở thành hiệu trưởng đại học Princeton. Với học vấn uyên thâm, ông luôn phản đối mạnh mẽ sự lũng đoạn tài chính, và đương nhiên là không muốn gần gũi với người phát ngôn của các trùm tài chính. Mặc dù học cao hiểu rộng và có một trái tim bác ái, song, vị hiệu trưởng trường đại học Princeton cũng khó mà hiểu hết được kỹ xảo kiếm tiền của các nhà ngân hàng phố Wall.

Đám tài phiệt ngân hàng hiểu rõ rằng, Wilson là một người nổi tiếng chuyên phản đối sự lũng đoạn tài chính, một nhân tài với hình tượng trong sáng, và đó quả thật là một viên ngọc thuần khiết khó có được. Vì thế, các ông trùm nhà băng ngấm ngầm đổ tiền đầu tư vào Wilson, ra sức “đẽo gọt” hòng dùng ông vào việc lớn.

Cũng may là Cleveland Dodge – chủ tịch của ngân hàng đô thị quốc gia New York lại là bạn học của Wilson ở đại học Princeton. Năm 1902, việc Wilson nhậm chức hiệu trưởng của Princeton một cách thuận lợi chính là kết quả của sự hỗ trợ to lớn về tài chính của Dodge. Có được một mối quan hệ không đơn giản như vậy, dưới sự sắp đặt của các nhà tài phiệt ngân hàng, Dodge bắt đầu loan tin ở phố Wall rằng Wilson được dự đoán sẽ trở thành tổng thống tương lai.

Một người mới nhậm chức hiệu trưởng được mấy năm mà đột nhiên có người tung hô là tổng thống tương lai, thì việc mừng thầm cũng là chuyện thường tình của con người. Đương nhiên, việc được tung hô như vậy luôn phải trả giá. Wilson bắt đầu quay lưng với phong trào phản đối lũng đoạn tài chính và xích gần lại với phố Wall. Quả nhiên, dưới sự ủng hộ của các ông chủ phố Wall, Wilson nhanh chóng trở thành thống đốc của bang New Jersey vào năm 1910.

Trong những trường hợp công khai, Wilson vẫn nghiêm khắc chỉ trích phố Wall lũng đoạn tài chính, nhưng trong lòng ông ta cũng hiểu rằng địa vị và tiền đồ chính trị của ông ta sẽ phải hoàn toàn dựa vào thế lực của các nhà ngân hàng. Các nhà ngân hàng khoan dung và kiềm chế một cách lạ thường trước sự đả kích của Wilson, hai bên đã duy trì một sự hiểu ngầm khéo léo mà chẳng cần phải nói ra.

Trong khi uy tín và thanh danh của Wilson ngày càng lên cao, các nhà ngân hàng đã nâng trống kéo cờ gây quỹ tranh cử tổng thống cho ông. Dodge thành lập một văn phòng quyên quỹ tranh cử cho Wilson tại số 42 đại lộ Broadway New York, đồng thời mở tài khoản ở ngân hàng, và Dodge đã góp một tấm chi phiếu trị giá 1.000 đô-la. Bằng phương thức chuyển phát nhanh, Dodge đã quyên góp được một khoản kinh phí cực lớn từ các nhà tài phiệt ngân hàng, và 2/3 nguồn kinh phí trong tổng số quyên góp được đều do 7 nhà tài phiệt ngân hàng lớn nhất phố Wall đóng góp.

Sau khi được đề cử tranh cử tổng thống, trong niềm vui khó kiềm chế nổi, Wilson đã viết thư cho Dodge và nói rằng “Thật là không thể tưởng tượng niềm vui của tôi”. Từ đây, Wilson đã hoàn toàn dốc sức cho hoài bão của các nhà ngân hàng. Với tư cách là người tham gia tranh cử của đảng dân chủ, Wilson đã mang trên vai mình trọng trách cùng niềm hy vọng vô cùng của đảng này, cơn khát quyền lực của đảng dân chủ vốn đã mất chiếc ghế tổng thống trong nhiều năm cũng chẳng khác gì cơn khát của Wilson.

Thách thức lớn nhất lúc này của Wilson chính là đương kim tổng thống Taft – người khi đó còn chưa được biết đến trên toàn quốc – và so với Wilson thì rõ ràng đương kim tổng thống Taft có lợi thế hơn rất nhiều. Trong khi Taft đang tự tin chuẩn bị bước vào nhiệm kỳ tổng thống thứ hai và tỏ ý chưa sẵn sàng bật đèn xanh cho đạo luật của Aldrich thì một sự việc kỳ lạ chưa từng thấy đã xảy ra: cựu tổng thống Roosevelt (cha) – người tiền nhiệm của Taft đã đột nhiên chen ngang, ra tham gia tranh cử tổng thống, thật là họa vô đơn chí cho Taft của đảng cộng hòa lẫn người “thay ca” do Roosevelt (cha) lựa chọn. Năm đó Roosevelt (cha) nhờ ép buộc cơ quan chứng khoán miền bắc giải thể mà tiếng tăm lừng lẫy, và được tiếng là cương quyết với nạn lũng đoạn, và sự xuất hiện đột ngột của ông ta sẽ xâm hại nghiêm trọng đến phiếu bầu của Taft.

Trên thực tế, sau lưng của ba ứng cử viên này đều có sự ủng hộ của các nhà tài phiệt ngân hàng. Dưới sự dàn xếp của phố Wall, Roosevelt (cha) quả nhiên “không cẩn thận” đã gây hại nặng nề cho Taft, khiến Wilson trúng cử thuận lợi. Màn kịch này tuy khúc điệu có khác nhưng cách diễn thì lại hay như màn kịch của năm 1992 khi mà Bush cha bị Perry cướp mất một lượng lớn phiếu bầu mà thất bại bất ngờ trước đối thủ mới – Bill Clinton.

AI NẮM GIỮ CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG MỸ?

Nhiều năm nay, vấn đề ai đang nắm giữ Cục dữ trữ liên bang Mỹ vẫn luôn là một đề tài kín như bưng. Bản thân Cục dự trữ liên bang Mỹ thì luôn quanh co úp mở. Giống như ngân hàng Anh quốc, Cục dự trữ liên bang Mỹ cũng giữ kín thông tin về các cổ đông. Hạ nghị sĩ Wright Patman đảm nhận chức chủ tịch ngân hàng Hạ viện và ủy ban tiền tệ đến 40 năm, trong đó có 20 năm liền ông không ngừng đề xuất phương án phế bỏ Cục dự trữ liên bang Mỹ, và ông cũng luôn để ý đến vấn đề rốt cuộc ai đang nắm giữ Cục dự trữ liên bang Mỹ.

Bí mật này cuối cùng đã được hé lộ. Eustace Mullins – tác giả cuốn sách “Bí mật của cục dự trữ liên bang Mỹ” (Secrets of Federal Reserve) – đã trải qua hơn nửa thế kỷ nghiên cứu và thu thập được 12 giấy phép kinh doanh (Organization Certificates) sớm nhất của ngân hàng Cục dự trữ liên bang Mỹ, trên đó ghi rõ ràng giá trị mỗi một cổ phần cấu thành của Cục dự trữ liên bang.

Ngân hàng New York của cục dự trữ liên bang Mỹ là ngân hàng khống chế thực tế của hệ thống Cục dự trữ liên bang Mỹ, tổng lượng cổ phần phát hành theo đăng ký trong văn bản gửi cơ quan kiểm toán ngày 19 tháng 5 năm 1914 là 203.053 cổ phần, trong đó:

Ngân hàng National City Bank of New York dưới sự khống chế của công ty Rockefeller và Kuhn Loeb, tức là tiền thân của ngân hàng Hoa Kỳ, nắm giữ số cổ phần lớn nhất, giữ 30.000 cổ phần.

Ngân hàng First National Bank của Morgan nắm giữ 15.000 cổ phần. Sau khi sáp nhập vào năm 1955 thành ngân hàng Hoa Kỳ, hai công ty đã nắm giữ gần ¼ số cổ phần của ngân hàng New York thuộc Cục dữ trữ liên bang Mỹ, và trên thực tế, nó đã quyết định chiếc ghế chủ tịch của Cục dự trữ liên bang, việc tổng thống Mỹ bổ nhiệm chức chủ tịch chỉ là một hình thức sơ sài mà thôi, còn việc lấy ý kiến quốc hội lại càng giống một màn kịch lướt qua.

Ngân hàng thương mại quốc gia New York (National Bank of Commerce of New York City) của Paul Wahlberg nắm giữ 21.000 cổ phần.

Ngân hàng Hanover Bank của dòng họ Rothschild đảm nhận chức chủ tịch với quyền sở hữu 10.200 cổ phần.

Ngân hàng Chase National Bank nắm giữ 6.000 cổ phần.

Tổng cộng sáu ngân hàng này đã nắm giữ 40% cổ phần ngân hàng New York thuộc Cục dự trữ liên bang Mỹ, đến năm 1983, họ đã nắm giữ tổng cộng là 53% lượng cổ phần. Sau khi điều chỉnh, tỉ lệ nắm giữ cổ phần của họ là: Ngân hàng Hoa Kỳ 15%, Chase Manhattan 14%, Morgan Guaranty Trust 9%, Manufacturers Hanover 7%, Chemical Bank 8%.

Tổng vốn đăng ký của ngân hàng New York thuộc Cục dự trữ liên bang Mỹ là 143 triệu đô-la, nhưng việc các ngân hàng kể trên có chi ra khoản tiền này hay không vẫn là một câu đố. Có một số nhà sử học cho rằng các ngân hàng chỉ chi ra một nửa hiện kim, trong khi một số nhà sử học khác thì cho rằng, về cơ bản, các ngân hàng không chi ra bất cứ hiện kim nào mà chỉ dùng hối phiếu để chi ra, và trên tài khoản của Cục dự trữ liên bang Mỹ mà bản thân họ đang sở hữu chỉ là sự biến động của mấy con số mà thôi, còn sự vận hành của Cục dự trữ liên bang Mỹ thực ra chính là việc “dùng giấy thế chấp phát hành ra giấy”. Chẳng thế mà một nhà sử học đã mỉa mai rằng hệ thống ngân hàng dự trữ liên bang không mang tính chất “liên bang”, cũng chẳng có “dự trữ”, và cũng không phải là ngân hàng nốt.

Ngày 15 tháng 6 năm 1978, Ủy ban Đối ngoại của Chính phủ thượng nghị viện Mỹ (Government Affairs) đã công bố báo cáo về lợi tức của các công ty chủ chốt của nước Mỹ. Báo cáo này cho thấy rằng, 470 vị trí thành viên hội đồng quản trị là do người của các ngân hàng kể trên nắm giữ đến từ 130 công ty chủ yếu nhất của Mỹ, tính bình quân tại mỗi một công ty chủ chốt có 3,6 ghế trong hội đồng quản trị thuộc về các nhà ngân hàng.

Trong đó, ngân hàng Hoa Kỳ đã khống chế 97 ghế hội đồng quản trị; công ty JP Morgan – 99 ghế; Ngân hàng Chamical – 96 ghế; Chase Manhattan – 89 ghế; Hanover De – 89 ghế.

Ngày 3 tháng 9 năm 1914, khi Cục dự trữ liên bang Mỹ quyết định bán cổ phần ra công chúng, thời báo New York đã công bố cơ cấu cổ phần của các ngân hàng chủ yếu như sau:

National City Bank đã phát hành 250.000 cổ phiếu, James Stillman nắm giữ 47.498 cổ phần; công ty JP Morgan nắm giữ 14.500 cổ phần; William Rockefeller nắm giữ 10.000 cổ phần; John.Rockefeller nắm giữ 1.750 cổ phần.

Ngân hàng thương mại quốc gia New York đã phát hành 250.000 cổ phiếu, George Berk nắm giữ 10.000 cổ phiếu; công ty JP Morgan – 7.800 cổ phần; Mary Hariman – 5.650 cổ phần; Paul Wahlberg – 3.000 cổ phần; Jacob Schiff – 1.000 cổ phần, JP Morgan con – 1.000 cổ phần.

Ngân hàng Chase, George Berk nắm giữ 13.408 cổ phiếu.

Ngân hàng Hanover, James Still nắm giữ 4.000 cổ phần; William Rockefeller nắm giữ 1.540 cổ phần.

Kể từ khi thành lập vào năm 1913 đến nay, Cục dự trữ liên bang đã cho thấy một sự thật không thể bao biện rằng các nhà ngân hàng đang thao túng mạch máu tài chính, mạch máu công thương nghiệp và mạch máu chính trị của nước Mỹ. Hơn thế nữa, các nhà ngân hàng của phố Wall đều có mối quan hệ mật thiết với dòng họ Rothschild của thành Luân Đôn.

Benjamin Strong – CEO của Bankers Trust – được chọn làm chủ tịch hội đồng quản trị của ngân hàng New York thuộc Cục dự trữ liên bang Mỹ khóa thứ nhất. “Dưới sự khống chế của Strong, hệ thống dự trữ liên bang đã hình thành mối quan hệ khăng khít chặt chẽ với ngân hàng Anh quốc và ngân hàng France. Benjamin Strong giữ chức chủ tịch ngân hàng Cục dự trữ liên bang Mỹ ở New York mãi đến năm 1928 thì đột ngột tử vong, trong khi quốc hội đang điều tra hội nghị bí mật của hội đồng quản trị Cục dự trữ liên bang cũng như giới chóp bu của ngân hàng trung ương châu Âu, và những hội nghị bí mật này đã dẫn đến cuộc đại suy thoái năm 1929.”

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ KHÓA MỘT CỦA CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG MỸ

Về sau, Wilson đã tự thừa nhận rằng, ông ta chỉ được phép chỉ định một thành viên trong hội đồng quản trị của Cục dự trữ liên bang Mỹ, và các thành viên còn lại đều do các nhà ngân hàng của New York lựa chọn. Trong quá trình đề cử và bổ nhiệm Paul Wahlberg vào vị trí chủ tịch hội đồng quản trị, thượng nghị viện yêu cầu ông phải có mặt tại quốc hội để trả lời chất vấn vào tháng 6 năm 1914, chủ yếu là tìm hiểu vai trò của ông trong quá trình soạn thảo dự luật Cục dự trữ liên bang, nhưng rốt cuộc, Paul đã từ chối thẳng thừng. Trong thư gửi cho quốc hội, ông tuyên bố rằng việc trả lời bất cứ chất vấn nào theo yêu cầu đều có thể sẽ ảnh hưởng đến vai trò của ông trong hội đồng quản trị Cục dự trữ liên bang, vì vậy ông quyết định từ chối việc tiếp nhận đề cử vào chức chủ tịch hội đồng quản trị Cục dự trữ liên bang Mỹ. Thời báo New York ngay lập tức lên tiếng minh oan cho Paul, và trong số báo ngày 10 tháng 7 năm 1914, tờ báo này đã chỉ trích thượng nghị viện không nên chất vấn Paul một cách hồ đồ như vậy.

Hiển nhiên Paul là nhân vật trung tâm của Cục dự trữ liên bang Mỹ. Nếu không có ông, chắc chẳng có người thứ hai nào biết được Cục dự trữ liên bang Mỹ rốt cuộc vận hành như thế nào. Đối mặt với thái độ cứng rắn của ông, quốc hội chỉ còn cách gật đầu và đưa ra một danh sách các câu hỏi trước khi ông nhậm chức, và nếu như có câu hỏi nào Paul cảm thấy “sẽ ảnh hưởng đến vai trò của mình”, ông ta có thể không trả lời, và cuối cùng thì Paul đã đành miễn cưỡng đồng ý, nhưng yêu cầu được gặp mặt phi chính thức.

Ủy ban hỏi: Tôi biết ngài là người của Đảng Cộng hòa, nhưng ngay khi Roosevelt tham gia tranh cử thì ngài lại trở thành người đồng tình và ủng hộ của Wilson (Đảng Dân chủ)?

Paul đáp: Đúng vậy.

Ủy ban hỏi: Nhưng anh (Felix Warburg) của ngài lại ủng hộ Taft (Đảng Cộng hòa)?”

Paul đáp: Đúng vậy.

Điều thú vị là, ba cổ đông của công ty Kuhn Loeb lại ủng hộ ba người khác nhau ra tranh cử tổng thống, trong số đó Otto Kahn ủng hộ Roosevelt cha. Giải thích của Paul là ba người này không can thiệp vào quan điểm chính trị của nhau, bởi vì “tài chính và chính trị không liên quan đến nhau”.

Paul vượt qua cuộc điều trần của quốc hội một cách thuận lợi, trở thành chủ tịch thứ nhất của cục dự trữ liên bang Mỹ, sau đó trở thành phó chủ tịch hội đồng quản trị.

Ngoài Paul ra, bốn thành viên khác của hội đồng là:

  • Adolph Miller, nhà kinh tế học, xuất thân từ đại học Chicago do Rockefeller tài trợ và đại học Havard do Morgan tài trợ.
  • Charles Hamlin, từng đảm nhiệm chức trợ lý bộ trưởng tài chính.
  • Frederick Delano, thông gia của Roosevelt, nhà ngân hàng đường sắt.
  • W.P.G Harding Chủ tịch First National Bank of Atlanta.

Thomas D. Jones được tổng thống Wilson đích thân tiến cử đã bị bộ tư pháp Mỹ điều tra và khởi tố, về sau tự rút lui khỏi hội đồng quản trị.

Hai thành viên khác là bộ trưởng tài chính và kiểm toán viên tiền tệ.

ỦY BAN TƯ VẤN LIÊN BANG (FEDERAL ADVISORY COUNCIL)

Ủy ban tư vấn liên bang là một chiếc camera bí mật được Paul Wahlberg dày công thiết kế để khống chế hội đồng quản trị Cục dự trữ liên bang Mỹ. Trong quá trình vận hành hơn 90 năm của Cục dự trữ liên bang, Ủy ban tư vấn liên bang đã thực hiện một cách hết sức xuất sắc ý tưởng năm đó của Paul, hầu như chưa có ai để ý cơ cấu này và sự vận hành của nó, cũng chưa có nhiều công trình nghiên cứu đáng tin cậy.

Năm 1913, hạ nghị sĩ Grasse đã ra sức quảng cáo cho ủy ban tư vấn liên bang. Ông ta nói: “Ở đây không thể có thứ gì gian ác. Mỗi năm (hội đồng quản trị cục dự trữ liên bang) sẽ hội đàm bốn lần với ủy ban tư vấn của các nhà ngân hàng, mỗi một thành viên đại diện cho cục dự trữ liên bang địa phương nơi mình sống. Chúng ta còn có thể bảo vệ lợi ích của công chúng tốt hơn sự sắp đặt này không?” Bản thân hạ nghị sĩ chính là Grasse – một nhà ngân hàng, và ông ta không giải thích hoặc cung cấp bất cứ chứng cứ nào cho thấy các nhà ngân hàng đã từng bảo vệ lợi ích gì của công chúng trong lịch sử của nước Mỹ.

Ủy ban tư vấn liên bang do 12 nhà ngân hàng địa phương thuộc cục dự trữ liên bang tiến cử hợp thành, mỗi năm hội đàm bốn lần với thành viên của hội đồng quản trị cục dự trữ liên bang Mỹ ở Washington. Các nhà ngân hàng đã đề xuất “kiến nghị” chính sách tiền tệ cho các thành viên hội đồng quản trị của cục dự trữ liên bang Mỹ, mỗi một đại biểu đại diện cho lợi ích kinh tế của địa phương mình, mỗi người đều có quyền bỏ phiếu như nhau, đơn giản mà hoàn toàn kín kẽ về lý thuyết, nhưng trong sự khốc liệt tàn bạo của ngành ngân hàng thì đó hoàn toàn lại là một bộ “quy tắc ngầm” khác.

Thật khó tưởng tượng được tại sao một nhà ngân hàng nhỏ của Cincinnati ngồi chung một bàn hội nghị với các trùm tài chính quốc tế như Paul Wahlberg, Morgan để đề xuất “kiến nghị chính sách tiền tệ” với các ông trùm tài chính này? Chỉ cần tiện tay móc trong túi ra một tấm chi phiếu rồi ngoạch lên đó hai nét bút thì bất cứ ai trong số hai ông trùm tài chính này cũng đủ khiến cho các nhà ngân hàng nhỏ khuynh gia bại sản. Trên thực tế, sự sinh tồn của mỗi một nhà ngân hàng nhỏ trong số 12 khu vực liên bang đều hoàn toàn phụ thuộc và sự ban ơn của 5 ngân hàng lớn ở phố Wall. Năm ông trùm này có ý đem đa số các giao dịch lớn với các ngân hàng châu Âu để chuyển thành các giao dịch nhỏ lẻ cho các “ngân hàng vệ tinh” trong các khu vực của mình đi xử lý. Và càng có được những thương vụ béo bở thì “các ngân hàng vệ tinh” càng thêm phục tùng nghe theo các ông trùm kia, đương nhiên năm ông trùm kia cũng có quyền nắm giữ cổ phần của những ngân hàng nhỏ này. Nói chung chúng ta không cần phải tưởng tượng nhiều cũng có thể biết được kết quả mỗi khi khi các ngân hàng nhỏ “đại diện cho lợi ích khu vực của mình” này cùng nhau thảo luận chính sách tiền tệ của Mỹ với năm ông trùm tài chính kia.

Cho dù “kiến nghị” của ủy ban tư vấn liên bang chẳng có sức trói buộc lắm đối với việc quyết sách của hội đồng quản trị Cục dự trữ liên bang, nhưng đều đặn mỗi năm bốn lần, các nhà ngân hàng không ngại khổ cực vi hành đến Washington để hội họp với năm ông trùm phố Wall. Có phải họ đến Washington chỉ để gặp gỡ trà nước với năm nhà tài phiệt đó? Nên nhớ rằng, những con người vô cùng bận rộn cùng lúc phải kiêm nhiệm chức chủ tịch hội đồng quản trị của 63 công ty như Morgan, nếu như sự “kiến nghị” của họ không nhận được bất cứ sự suy xét nào, mà họ vẫn vui vẻ bôn ba đi về, đó thực sự là điều hết sức kỳ lạ.

CHÂN TƯỚNG Ở ĐÂU?

Tuyệt đại đa số người Mỹ hoàn toàn không thể hiểu được chính xác phương thức vận hành của các thể chế cho vay quốc tế. Sổ sách của cục dự trữ liên bang Mỹ vốn dĩ chưa từng được kiểm tra. Nó hoàn toàn được vận hành bên ngoài phạm vi khống chế của quốc hội, và nó đang thao túng (cung ứng) tín dụng của nước Mỹ.

Thượng nghị sĩ Barry Goldwater

Để tạo ra giá cao, Cục dự trữ liên bang Mỹ chỉ cần hạ thấp lãi suất xuống, nhằm mở rộng hoạt động tín dụng và tạo nên một thị trường cổ phiếu phồn vinh. Ngay sau khi ngành công thương đã quen với môi trường lãi suất như vậy, Cục dự trữ liên bang Mỹ lại quyết định nâng cao lãi suất một cách tùy ý nhằm chấm dứt sự phồn vinh này.

Nó (cục dự trữ liên bang Mỹ và các nhà ngân hàng nắm giữ cục dự trữ liên bang) có thể dùng khả năng điều chỉnh lãi suất nhẹ nhàng để khiến cho giá thị trường dao động lên xuống một cách hài hòa như con lắc, cũng có thể điều chỉnh mạnh lãi suất để khiến cho giá cả thị trường dao động dữ dội, bất kể là tình hình nào, nó sẽ nắm giữ tin tức nội bộ của tình hình tài chính và biết trước sự thay đổi sắp đến của sự việc.

Đây là điều mà không có một chính phủ nào có thể có được, quyền biết trước (thông tin thị trường) kỳ lạ nhất và nguy hiểm nhất mà giai cấp đặc quyền thiểu số nắm giữ. Hệ thống này là thuộc tư hữu, toàn bộ mục đích vận hành của nó chính là lợi dụng tiền của người khác để thu được lợi nhuận lớn nhất có thể. Họ biết được khi nào thì có thể tạo ra khủng khoảng để đạt đến tình hình có lợi nhất đối với họ. Tương tự, họ cũng biết phải dừng khủng hoảng vào lúc nào là thích hợp nhất. Khi tài chính được khống chế thì việc lạm phát tiền tệ và siết chặt tiền tệ đều có hiệu suất như nhau đối với mục đích của họ.

Hạ nghị sĩ Charles Lindbergh

Mỗi một đồng chứng chỉ cục dự trữ liên bang Mỹ (Federal Reserve Note) đều đại diện cho một khoản nợ chưa trả của một đồng đô-la của cục dự trữ liên bang Mỹ.

Báo cáo tiền tệ, ngân hàng hạ viện và ủy ban tiền tệ

Ngân hàng khu vực của cục dự trữ liên bang Mỹ không phải là cơ cấu chính phủ, mà là công ty độc lập, do tư nhân nắm giữ và địa phương kiểm soát.

Lewis và chính phủ Mỹ, 9th Circuit 1982

Cục dự trữ liên bang Mỹ là một trong những cơ cấu hủ bại nhất trên thế giới. Những người có thể nghe chúng ta nói (diễn thuyết của quốc hội), chẳng có ai biết được trên thực tế quốc gia của chúng ta đang bị các nhà ngân hàng quốc tế thống trị. Có một số người cho rằng ngân hàng cục dự trữ liên bang Mỹ là cơ cấu của chính phủ Mỹ. Chúng (ngân hàng cục dự trữ liên bang Mỹ) không phải là cơ cấu chính phủ. Chúng là cơ cấu lũng đoạn hoạt động tín dụng của tư hữu, cục dự trữ liên bang Mỹ đang bóc lột nhân dân Mỹ vì lợi ích của bản thân chúng và những kẻ bịp bợp ngoại quốc.

Hạ nghị sĩ Louis McFadden

Khi bạn và tôi viết chi phiếu, trong tài khoản của chúng ta cần phải có đủ tiền để bảo đảm cho kim ngạch của chi phiếu. Thế nhưng, khi cục dự trữ liên bang Mỹ xuất chi phiếu, trong tài khoản của nó chẳng có bất cứ món tiền nào để bảo đảm. Khi xuất chi phiếu chính là lúc Cục dự trữ liên bang Mỹ sáng tạo ra tiền tệ.

Ngân hàng cục dự trữ liên bang Mỹ Boston

Từ năm 1913 đến năm 1949, nguồn vốn của cục dự trữ liên bang Mỹ từ 143 triệu đô-la tăng vọt lên 45 tỉ đô-la. Số tiền này trực tiếp chảy vào hầu bao của các cổ đông ngân hàng Cục dự trữ liên bang Mỹ.

L’Estaque Mullins

Rất nhiều vị tổng thống đã đưa ra lời cảnh báo về sự đe dọa của quyền lực tiền tệ. Nhiều ghi chép của quốc hội và các án lệ pháp luật đã nói rõ ràng tính chất tư hữu của cục dự trữ liên bang Mỹ, nhưng có bao nhiêu người dân Mỹ, và người dân của các quốc gia khác biết được điều này? Đây mới là điểm đáng sợ của vấn đề! Chúng ta cho rằng giới truyền thông uy quyền của phương tây “tự do công bằng” sẽ phơi bày chân tướng tất cả, nhưng mọi chân tướng trên thực tế đều bị giới truyền thông “bỏ qua” một cách cố ý. Vậy còn sách giáo khoa của nước Mỹ thì sao? Vốn dĩ các loại sách giáo khoa của Mỹ đều lấy việc lựa chọn những “nội dung lành mạnh” cho thế hệ sau mà bỏ qua các loại quỹ mang danh nghĩa của các nhà ngân hàng quốc tế.

Trước khi qua đời, khi tổng thống Wilson đã thừa nhận rằng mình đã bị lừa dối trong các vấn đề liên quan đến Cục dự trữ liên bang Mỹ. Ông đã day dứt khi nói rằng “tôi đã vô ý hủy hoại tổ quốc mình ”.

Khi cục dự trữ liên bang Mỹ chính thức đi vào hoạt động ngày 25 tháng 10 năm 1914, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã bùng nổ. Lại một sự “trùng hợp” hoàn hảo về thời gian! Các cổ đông của Cục dự trữ liên bang Mỹ đang hồ hởi chờ một một mẻ cá lớn!

Chiến tranh và Suy thoái: MÙA BỘI THU CỦA CÁC NGÂN HÀNG QUỐC TẾ

Nguy cơ thật sự của đất nước cộng hòa chúng ta chính là chính phủ bù nhìn này – một con bạch tuộc khổng lồ với vô vàn xúc tu đang bám chặt lấy các thành phố, các bang và đất nước của chúng ta. Cái đầu của con bạch tuộc này là tập đoàn dầu khí của Rockefeller và một nhóm nhỏ được gọi là trùm tài chính có năng lực cực lớn của các ngân hàng quốc tế. Trên thực tế, chúng đang thao túng chính phủ Mỹ nhằm thỏa mãn ham muốn cá nhân của bản thân mình.

Thông qua việc khống chế nguồn cung ứng tiền tệ để dễ bề điều khiển Chính phủ, các nhà tài phiệt ngân hàng càng có cơ hội để bóc lột người dân và cướp bóc nguồn tài nguyên của quốc gia. Đây chính là lý do giải thích vì sao các dòng họ lớn này luôn tập trung cao độ vào quyền lực đồng thời dốc sức để sai khiến quyền lực và thông qua việc phát hành tiền tệ để chiếm đoạt tài nguyên.

Các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế này cũng như gia tộc Rockefeller chính là thế lực khống chế phần lớn báo chí của đất nước. Họ sử dụng những chuyên mục bình luận trên các báo này để kiềm chế các quan chức chính phủ. Những người không quy thuận sẽ bị họ tống khứ ra khỏi cơ cấu chính phủ.

Trên thực tế, các nhà tài phiệt ngân hàng đã khống chế cả hai đảng (đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ), kiểm soát cương lĩnh chính trị của hai đảng, khống chế các nhân vật lãnh đạo, tin dùng các ông trùm của các công ty tư nhân. Nói chung, họ không từ bất cứ thủ đoạn nào để sắp đặt nhân sự trong các cơ quan cấp cao của chính phủ theo ý họ.

John Hylan, Thị trưởng thành phố New York, 1927.

Chiến tranh luôn cần đến tiền. Quy mô chiến tranh càng lớn thì lượng tiền chi ra càng nhiều, đây là cái lý mà ai cũng biết. Vấn đề là ai tiêu tiền của ai? Do chính phủ các nước Âu – Mỹ không có quyền phát hành tiền tệ nên nguồn tiền tất yếu chỉ có thể được vay từ ngân hàng. Chiến tranh làm cho tốc độ tiêu hao vật tư tăng cực độ, khiến cho các nước tham chiến dù có thất bại cũng phải theo đuổi đến cùng. Chiến tranh cũng khiến các chính phủ tìm mọi cách để vay tiền ngân hàng, bởi vậy thật dễ hiểu, tại sao chiến tranh luôn là đề tài yêu thích của các ngân hàng. Họ hoạch định chiến tranh, kích động chiến tranh, đầu tư cho chiến tranh, và những lâu đài hoa lệ của các ngân hàng quốc tế lại thường được xây trên đống đổ nát chồng chất tang thương của chiến tranh.

Một thủ đoạn kiếm tiền khác của các ngân hàng quốc tế là tạo ra suy thoái kinh tế. Trước tiên họ mở hầu bao để thúc đẩy tín dụng phát triển, tạo nên tình trạng thị trường bong bóng, rồi sau khi tài sản của người dân đã đổ dồn vào cơn sóng đầu cơ thì rút mạnh vòng quay lưu chuyển tiền tệ, tạo nên suy thoái kinh tế và sụt giá tài sản. Khi giá tài sản sụt xuống chỉ còn có một phần mười, thậm chí là một phần trăm giá trị thực thì họ lại ra tay mua vào. Trong ngôn ngữ của các ngân hàng quốc tế, hành động này được gọi là “xén lông cừu”. Sau khi ngân hàng trung ương tư hữu được thành lập, cường độ và phạm vi của hành động “xén lông cừu” đã đạt đến mức chưa có tiền lệ trong lịch sử.

Chiến tranh Thế giới Lần thứ nhất

Ngày 28 tháng 6 năm 1914, thái tử Ferdinand Vonsterreich-Este của Vương triều Habsburg – vương triều chính thống châu Âu – bị một thích khách trẻ tuổi người Serbia ám sát. Nhưng lúc đó, chẳng ai nghĩ rằng việc này lại trở thành ngòi nổ cho một cuộc đại chiến trên toàn cầu, kéo theo 30 quốc gia, 1,5 tỷ người vào vòng khói lửa và làm thương vong hơn 30 triệu người.

Do một số hiềm kích lúc đó mà châu Âu chia làm hai phe đối đầu với nhau. Một phe gồm Anh, Pháp, Nga và phe kia là Đức, Áo. Hai bên không ngừng chạy đua vũ trang chiến lược, duy trì một đội quân sẵn sàng chiến đấu có quy mô lớn. Chính phủ các nước đều vì vậy mà lún sâu vào vũng lầy nợ nần.

Từ năm 1887 đến năm 1914, tình hình chính trị bất ổn cộng với giá cả đắt đỏ vẫn bám chặt châu Âu. Chính phủ các nước châu Âu vì chạy đua vũ trang mà lâm vào tình trạng phá sản nhưng vẫn nhìn nhau bằng con mắt đối địch. Trong khi đó, hệ thống ngân hàng châu Âu do dòng họ Rothschild xây dựng và phát triển đã cung cấp các khoản vay cho cả hai bên, và dốc sức xúi dục đối đầu quân sự.

Đến năm 1914, các Chính phủ gần như hoàn toàn phá sản và không thể đủ sức gánh vác một cuộc chiến quy mô lớn. Tuy quân đội của họ luôn ở tư thế sẵn sàng tham chiến, nhưng lại không đủ sức chi trả các khoản chi phí chiến tranh khổng lồ. Trong một bối cảnh như vậy, nếu một nước tham chiến thua trận thì nền kinh tế của nước đó sẽ hoàn toàn tê liệt. Còn nếu thắng trận thì cũng chẳng có gì để mà hân hoan, vì các nước thua trận cũng không có gì để mà bồi hoàn chi phí chiến tranh cho nước thắng trận.

Như vậy, có thể thấy rõ ràng là không thể diễn ra một cuộc chiến quy mô lớn. Châu Âu tiếp tục kéo dài tình trạng bất ổn chính trị và giá cả leo thang, mãi cho đến khi có sự ra đời của Cục dự trữ liên bang Mỹ. Chiến tranh thế giới lần thứ nhất sẽ không thể diễn ra nếu không có sự ra đời của Cục dự trữ liên bang Mỹ.

Lúc này, Mỹ là cường quốc công nghiệp số một thế giới. Và ngay khi đề án Cục dự trữ liên bang đã được thông qua vào năm 1913, các nhà ngân hàng quốc tế lập tức bắt tay hành động. Ngày 3 tháng 8 năm 1914, ngân hàng của Rothschild ở Pháp đã gửi thông báo cho Morgan đề nghị lập tức chuẩn bị một khoản tín dụng trị giá 100 triệu đô-la Mỹ để Pháp mua vật tư từ Mỹ. Khi nghe tin, tổng thống Wilson lập tức phản đối, trong khi William Jennings Bryan – Bộ trưởng ngoại giao của Mỹ lúc bấy giờ – lên án khoản cho vay này là “giao dịch phi pháp xấu xa nhất”.

Đức và Mỹ cho tới thời điểm năm 1914 chưa từng kết giao với nhau trong kinh tế và chính trị. Ở Mỹ, có khoản 8 triệu người Mỹ gốc Đức, chiếm khoản 10% dân số Mỹ, và khi lập quốc, suýt nữa thì tiếng Đức đã trở thành quốc ngữ của Mỹ. Người Mỹ gốc Đức có sức ảnh hưởng chính trị không nhỏ, thêm vào đó người nhập cư gốc Ailen vốn dĩ không thiện cảm với Anh. Trong quá khứ nước Mỹ cũng nhiều phen giao chiến với Anh. Nên ở giai đoạn này Chính phủ Mỹ luôn giữ một thái độ trung lập, và kiên quyết phản đối chiến tranh.

Điều này làm cho các nhà ngân hàng sốt ruột như kiến bò trong chảo nóng. Các nhà tài phiệt ngân hàng bèn nghĩ ra một kế sách tạm thời – cấp tín dụng cho các nước đồng minh (Anh, Pháp) để mua vật tư của Mỹ thay vì cho các nước này vay tiền thông qua việc mua công trái. Dưới sức ép của các nhà ngân hàng, Wilson buộc phải đồng ý, vì thời gian bầu cử tổng thống mới cho nhiệm kỳ tiếp theo sắp đến gần. Wilson ngày càng nghiên về lập trường của các nhà ngân hàng trong vấn đề tham chiến với hy vọng tái đắt cử lần hai.

Cỗ máy chiến tranh vốn im lặng quá lâu cuối cùng cũng đã có thể khởi động nhờ sự hổ trợ tài chính của Cục dự trữ liên bang Mỹ.

Trong giai đoạn sơ khởi và suốt thời gian diễn ra cuộc chiến Cục dự trữ liên bang Mỹ đã cung cấp cho các nước đồng minh là Anh và Pháp nhiều khoản tín dụng khổng lồ trị giá 3 tỷ đô-la. Ngân hàng Morgan thu 1% phí thủ tục, nghĩa là ngân hàng này đã xơi trọn 30 triệu đô-la.

Cuộc chiến tranh khiến cho vật tư tiêu hao với tốc độ chống mặt. Chiến tranh đã khiến cho các nước tham chiến bất chấp mọi giá để theo đuổi, bất chập mọi giá để vay ngân hàng. Đó là lý do giải thích tại sao chiến tranh luôn là điều mà các nhà ngân hàng mong chờ và yêu thích.

Do việc phát hành các khoản cho vay quy mô lớn để trợ giúp tài chính cho cuộc chiến châu Âu nên lượng tiền tệ của Mỹ giảm đi ghê gớm. Chính phủ Mỹ bắt đầu tăng thêm lượng công trái khổng lồ. Cục dự trữ liên bang tiếp nhận công trái và phát hành chi phiếu Cục dự trữ liên bang (Federal Reserve Note) với hạn ngạch ồ ạt hòa vào dòng chảy tiền tệ bổ sung cho sự thiếu hụt tiền tệ do các khoản vay chiến tranh của châu Âu gây nên. Kết quả là chỉ trong vòng 4 năm kể từ khi Cục dự trữ liên bang đi vào hoạt động (1916 đến 1920), số công trái Mỹ đã tăng gấp 25 lần, từ 1 tỷ đô-la lến đến 25 tỷ đô-la. Tất cả số công trái của Mỹ đề dựa trên những khoản thuế chưa nộp của người dân Mỹ để thế chấp. Nhờ chiến tranh, các nhà tài phiệt ngân hàng kiếm được một khoản tiền khổng lồ trong khi đó người dân lại mất tiền, mất sức, và cả máu.

Nước Mỹ tham chiến

Khoản vay 3 tỷ đô-la mà Mỹ cung cấp cho các nước đồng minh và khoản vật tư xuất khẩu trị giá 6 tỷ đô-la Mỹ vẫn chưa được hoàn trả. Nếu như Đức dành thắng lợi thì công trái của các nước đồng minh hiện nằm trong tay của các nhà tài phiệt ngân hàng sẽ chẳng đáng một xu. Vì muốn bảo vệ các khoản cho vay của mình mà Morgan, Rockefeller, Paul Warburg đã đồng tâm hiệp lực đẩy nước Mỹ vào cuộc chiến tranh.

Nguồn tài chính mà Mỹ hổ trợ cho các nước đồng minh hiện đã là một gánh nặng cho nước này khiến nước Mỹ cũng không đủ nguồn tài chính để tham chiến. Nên để tăng thêm nguồn tài chính, các nhà ngân hàng đã nghĩ ra nhiều kế sách hơn nữa: “Cuộc xung đột khiến chúng ta phải suy nghĩ thêm một bước phát triển khái niệm thuế thu nhập – một nguồn vốn quan trọng vẫn chưa được khai thác”. Dự luật thuế thu nhập đã được xây dựng để phục vụ cho chiến tranh.

Lưu ý rằng, thuế thu nhập ở đây có nghĩa là thuế thu nhập công ty chứ không phải là thuế thu nhập cá nhân. Trong năm 1916, các nhà tài phiệt ngân hàng đã hai lần tìm cách để Chính phủ thông qua Dự luật yêu cầu nộp thuế thu nhập cá nhân, nhưng cả hai lần, cuối cùng đều bị Tòa án tối cao bác bỏ. Ở Mỹ, quy định đóng thuế thu nhập cá nhân từ trước cho đến nay vốn chẳng có pháp luật làm căn cứ.

Ngày 28 tháng 7 năm 2006, bộ phim “Nước Mỹ từ tự do đến chủ nghĩa phát xít” (America: From Freedom to Fascism)[*] được đưa ra công chiếu rộng rãi ở Mỹ. Ống kính của Aaron Russo – đạo diễn điện ảnh nổi tiếng người Mỹ từng 6 lần nhận đề cử giải Oscar – đã thể hiện một sự thật trần trụi. Khi được công chiếu tại liên hoan phim Canes năm 2006, bộ phim đã gây chấn động mạnh mẽ cho công chúng. Sau khi chứng kiến một cảnh tượng chân thực về sự khác biệt của Chính phủ Mỹ so với những gì họ rêu rao (“chúng tôi tham chiến vì nguyên tắc dân chủ và đạo đức”) và những thế lực tài chính phía sau lưng nó thì cảm giác đầu tiên của tất cả khán giả lúc đó thật khó tả nổi. Trong tổng số 3.000 rạp chiếu phim ở Mỹ, chỉ có 5 rạp dám công chiếu bộ phim này.

“Hòa ước Versailles”: Bản hợp đồng ngừng bắn kỳ hạn 20 năm

Ngày 11 tháng 11 năm 1918, cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, tàn khóc và đẫm máu cuối cùng cũng đã hạ màn. Là nước chiến bại, Đức đã bị mất đi 13% lãnh thổ, đồng thời phải chịu trách nhiệm bồi thường chi phí chiến tranh 32 tỷ đô-la, ngoài ra mỗi năm còn phải chịu thêm khoản lãi suất 500 triệu đô-la, bị trưng thu 26% khoản phí ngoài định mức đối với hàng hóa xuất khẩu và mất luôn quyền kiểm soát đối với các xứ thuộc địa. Số lượng lục quân chỉ được giữ lại 100 nghìn quân, các chiến hạm chủ lực của hải quân không được vượt quá 6 cái, không được trang bị các loại khí tài hạng nặng như tàu ngầm, máy bay, xe tăng hoặc trọng pháo.

David Loyd George – Thủ tướng Anh – đã từng tuyên bố: “phải đem được tiền về cho dù có phải lục soát hết túi của người Đức đi chăng nữa”, nhưng ông ta cũng thừa nhận: “Văn kiện [hòa ước] mà chúng ta soạn thảo đã gieo mầm cho cuộc chiến tranh 20 năm sau. Những điều kiện mà các bạn áp đặt cho người Đức khiến người Đức hoặc là không thể tuân thủ điều ước, hoặc là có thể phát động chiến tranh”. Curzon – Bộ trưởng ngoại giao Anh cũng có cách nhìn tương tự, ông nói: “Hòa ước này sẽ chẳng thể đem lại hòa bình, mà nó chỉ có thể là một bản hòa ước đình chiến có thời hạn 20 năm mà thôi”.

Tháp tùng tổng thống Wilson trong cuộc vi hành đến Paris gồm có: Cố vấn tài chính cao cấp Paul Warburg, Morgan và luật sư Felix của ông, Thomas Lemon – cổ đông cao cấp của công ty Morgan, Baru – Chủ tịch Ủy ban công nghiệp thời chiến, anh em nhà Dulles (một người sẽ là nhân vật chóp bu của CIA sau này, một người là Bộ trưởng ngoại giao). Sau lưng Thủ tướng Anh là Philip Sassoon – con cháu đích tôn của dòng họ Rothschild. Jeroboam Rothschild – cán bộ tham mưu cao cấp của thủ tướng Pháp Clemenceau. Người dẫn đầu đoàn đại biểu Đức là Max Warburg – anh trai cả của Paul Warburg. Khi các nhà tài phiệt ngân hàng tề tựu đến Paris, trong vai trò chủ nhà, Nam tước Edmond de Rothschild tiếp đãi các vị khách quý nhiệt tình.

Thực tế, hội nghị hòa bình Paris là một cuộc liên hoan của các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế. Sau khi phất mạnh nhờ vào các khoản tiền thu được từ cuộc chiến, họ đã tiện tay gieo hạt mầm cho cuộc chiến tiếp theo: Chiến tranh Thế giới lần thứ hai.

[*]: Đây là một bộ phim tài liệu về một cuộc tìm kiếm chân thật nhất đối với sự thật về Cục Dự Trữ Liên Bang (một ngân hàng tư nhân) và tính hợp pháp của Sở Thuế Vụ (IRS). Thông qua các cuộc phỏng vấn rộng rãi với các nhà chuyên môn uy tín, đạo diễn đã vạch trần một sự thật đáng kinh ngạc về cách Chính Phủ Liên Bang và các Nhà tài phiệt ngân hàng đã lừa dối người dân Mỹ thông qua chiếm đoạt của cải của nhân dân và chuyển vào túi những nhà tài phiệt. Đạo diễn đã phỏng vấn một trong những bộ não của IRS, và người xem có thể tự hình dung kết luận về cách hệ thống hoạt động như thế nào. Đây không phải bộ phim tài liệu được che phủ bởi các quan điểm, phỏng đoán hay bình luận. Nó là một bộ phim chân thực với một mục đích đó là cho mọi người biết về Cục Dự Trữ Liên Bang, và Sở Thuế Vụ, cách các hệ thống này bắt đầu, và tiền của nhân dân đi đâu. Bộ phim sẽ có thể khiến bạn cười, và sẽ khiến bạn giận dữ! (imdb.com)

Chiến dịch xén lông cừu

Ngày 1 tháng 9 năm 1894, chúng ta sẽ đình chỉ tất cả việc kéo dài các khoản vay. Ngày đó, chúng ta sẽ vét lại hết tiền của mình, sẽ tịch thu và phát mãi các tài sản còn chưa thanh toán hết cho chúng ta, sẽ dùng giá do chúng ta định ra để có được hai phần ba đất đai nông nghiệp tính từ sông Mississippi về phía tây và hàng ngàn hàng vạn hec-ta đất đai ở miền đông nước Mỹ. Những nông dân [mất đất vì phá sản] sẽ biến thành những kẻ làm thuê, chẳng khác gì ở Anh cả.

Hiệp hội các nhà tài phiệt ngân hàng Mỹ, 1891 (sưu tầm tư ghi chép của Quốc hội Mỹ, ngày 29 tháng 4 năm 1913)

“Xén lông cừu” (fleecing of the flock) là một thuật ngữ chuyên môn trong nội bộ các nhà tài phiệt ngân hàng, nghĩa là việc lợi dụng cơ hội được tạo ra trong quá trình phát triển và suy thoái kinh tế để có được tài sản của người khác chỉ bằng một phần nhỏ giá trị thực của tài sản ấy. Khi các ngân hàng đã khống chế được quyền phát hành tiền tệ của Mỹ thì sự tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế Mỹ đã trở thành quá trình có thể khống chế chính xác. Hành vi “xén lông cừu” lúc này đối với ngân hàng chẳng khác nào giai đoạn chuyển hóa của những người dân du mục từ săn bắt kiếm sống sang sản xuất ổn định nhờ biết chăn nuôi một cách khoa học.

Thế chiến thứ nhất đã đem đến cho nước Mỹ sự phồn vinh trên diện rộng. Việc mua sắm vật tư chiến tranh với quy mô cực đại đã thúc đẩy sản xuất và dịch vụ của các ngành công nghiệp Mỹ phát triển. Từ năm 1914 đến 1920. Cục dự trữ liên bang Mỹ đã đầu tư những khoản tiền lớn vào lĩnh vực kinh tế. Mức lãi xuất của Cục dữ trữ liên bang ở New York từ 6% trong năm 1914 giảm xuống còn 3% trong 1916, và được duy trì mãi đến năm 1920.

Để cung cấp các khoản vay lớn cho các nước đồng minh, trong vòng hai năm 1917 – 1918, các ngân hàng đã bốn lần tiến hành huy động vốn trên quy mô lớn, gọi là “trái phiếu tự do” (Liberty Bond), lãi suất thì tăng từ 3,5% đến 4 – 5%. Một mục đích hết sức quan trọng của các đợt phát hành tiền tệ và tín dụng này chính là nhằm thu hút lượng tiền tệ và tín dụng mà Cục dữ trữ liên bang Mỹ đã phát hành quá nhiều.

Trong chiến tranh người công nhân được trả lương cao, còn lương thực của nông dân thì bán rất được giá, tình trạng kinh tế của các tầng lớp công nhân thợ thuyền, nâng lên đáng kể. Sau khi chiến tranh kết thúc, do chi phí sinh hoạt và tiêu dùng giảm xuống, nông dân nắm giữ một lượng hiện kim rất lớn, và khoản tài sản khổng lồ này lại không nằm dưới sự khống chế của các ngân hàng Phố Wall. Đa số nông dân ở miền Tây và Trung của nước Mỹ thường đem tiền gửi vào ngân hàng địa phương để cất giữ. Vì mâu thuân với ngân hàng quốc tế New York, các ngân hàng vừa và nhỏ này không tham gia vào hệ thống ngân hàng Cục dự trữ liên bang, vừa không ủng hộ đối với việc cho vay chiến tranh ở châu Âu. Vì thế, các lão làng ở Phố Wall muốn tìm cơ hội để “chỉnh đốn” các ngân hàng “nhà quê” này đồng thời chuẩn bị ra tay “xén lông cừu” đối với “bầy cừu” nông dân béo múp.

Các ngân hàng Phố Wall trước hết xây dựng một cơ cấu được gọi là “Ủy ban cho vay Nông nghiệp Liên bang” (Federal Farm Loan Board) chuyên “khuyến khích” nông dân đem những đồng tiền mồ hôi xương máu của mình đầu tư vào việc mua đất đai mới. Tổ chức này chịu trách nhiệm cung cấp các khoản vay dài hạn, và đương nhiên, đối với nông dân thì điều này chẳng khác nào cảnh “buồn ngủ gặp chiếu manh”. Vì thế rất nhiều nông dân đã xin vay vốn dài hạn của các ngân hàng quốc tế dưới sự điều phối của tổ chức này, và nộp khoản chi đầu tiên với tỷ lệ cao.

Nhưng những người nông dân có thể chẳng bao giờ ngờ được rằng, họ đã rơi vào cái bẫy được thiết kế hết sức tinh vi.

Trong các tháng 4, 5, 6, 7 của năm 1920, lĩnh vực công nghiệp và thương mại đạt mức tăng trưởng tín dụng cao. Điều này đã giúp các nhà công nghiệp tháo gỡ các khoản vay tín dụng. Riêng chỉ có nông dân là bị từ chối khi muốn vay tín dụng. Đây là một quả bộc phát tài chính được Phố Wall thiết kế chính xác. Nó chỉ nhằm tước đoạt tài sản của nông dân và hủy hoại những vùng đất nông nghiệp của các ngân hàng vừa và nhỏ đã dám cự tuyệt lệnh của Cục dữ trữ liên bang.

Trong một hội nghi, Owen – Chủ tịch Ngân hàng thượng nghị viên và Ủy ban tiền tệ – đã nói rằng: “Đầu năm 1920, nông dân là những người có cuộc sống sung túc. Họ vay được nhiều tiền để mua nhà cửa ruộng vườn. Cuối năm 1920, việc các ngân hàng siết chặt tín dụng về tiền tệ một cách đột ngột đã khiến cho nông dân phá sản hàng loạt. Sự phát sản của nông dân đã xảy ra trong năm 1920 tương phản hoàn toàn với điều phải xảy ra”.

Trước cuộc khủng hoảng này, vào ngày 8 tháng 5 năm 1920, Ủy ban Cục dữ trữ liên bang Mỹ đã tiến hành một hội nghị bí mật. Họ họp kín với nhau suốt một ngày, biên bản hội nghị dày đến 60 trang. Nhưng mãi đến ngày 19 tháng 2 năm 1923, những biên bản này mới xuất hiện trong hồ sơ của thượng nghị viện. Hồ sơ chỉ ra rằng, chỉ có thành viên hội đồng quản trị loại A, tức thành viên của Ủy ban tư vấn Cục dự trữ liên bang tham gia hội nghị này. Thành viên hội đồng quản trị loại B (những người đại diện cho thương nghiệp, mậu dich, và nông nghiệp) thì không được mời. Tương tự, những người thuộc nhóm C, đại diện cho người dân cũng không được mời dự họp.

Những thành viên thuộc các ngân hàng lớn tham gia vào hội nghị bí mật đã đi đến thống nhất chính sách thắt chặt tín dụng, khiến cho thu nhập của Mỹ giảm 15 tỷ đô-la trong năm thứ hai, mấy triệu người Mỹ thất nghiệp, giá đất đai và trang trại sụt giảm đến 20 tỷ đô-la.

William J. Bryan – Bộ trưởng ngoại giao của Tổng thống Wilson – đã nêu ra đích xác căn nguyên của vấn đề: “Cục dự trữ liên bang Mỹ lẽ ra phải là người bảo vệ nông dân, nhưng trên thực tế lại trở thành kẻ thù lớn nhất của nông dân. Việc siết chặt tín dụng đối với nông nghiệp là một tội ác có âm mưu”.

Sau khi vui mừng nhờ bội thu từ hành động “xén lông cừu” đối với nông nghiệp, hơn nữa, còn quét sạch được các ngân hàng nhỏ ở vùng Trung – Tây nước Mỹ. Cục dự trữ liên bang Mỹ lại bắt đầu buông lỏng vong quay lưu chuyển tiền tệ.

Âm mưu năm 1927 của Ngân hàng Quốc tế dẫn đến cuộc đại suy thoái năm 1929

Nhờ vào sự ủng hộ của công ty Morgan và Kuhn Loeb, Benjamin Strong nghiễm nhiên ngồi vào vị trí Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng New York thuộc Cục dự trữ liên bang Mỹ. Và cùng với Montagu Norman – Chủ tịch Hội đồng quản trị của Ngân hàng Anh, ông đã mưu tính nhiều sự kiện quan trọng trong nền công nghiệp tài chính Anglo-Saxion, trong đó bao gồm cuộc đại suy thoái trên phạm vi toàn thế giới vào năm 1929.

Bố và ông ngoại của Norman đều từng đảm nhiệm vị trí Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng Anh – một điều thật đặc biệt trong lịch sử nước này.

Trong cuốn sách “Chính phủ tài chính”, Johnson đã viết rằng: “Với tư cách là một người bạn thân thiết, Strong thường cùng Norman đi nghỉ mát ở miền Nam nước Pháp. Từ năm 1925 đến năm 1928, trong chính sách nới lỏng tiền tệ của New York thì giữ Strong và Norman đã có một thỏa thuận ngầm nhằm khiến cho mức lãi suất của New York thấp hơn mức lãi suất của London. Nhờ vào mối hợp tác quốc tế này, Strong có ý muốn áp chế mức lãi suất của New York, mãi cho đến khi xảy ra hậu quả không thể vãn hồi mới thôi. Chính sách nới lỏng tiền tệ của New York đã kích lệ sự phồn vinh trong những năm 20 của nước Mỹ, dẫn đến phong trào dân chúng đầu cơ một cách điên cuồng.”.

Liên quan đến hiệp định bí mật này, năm 1928, dưới sự chỉ đạo của nghị sĩ Louis McFadden, House Stabilization Hearing đã tiến hành một cuộc điều tra, và kết luận được đưa ra là: Bằng việc thao túng dòng lưu thông của vàng, Ngân hàng Quốc tế đã tạo nên sự sụp đổ của thị trường cổ phiếu Mỹ.

Trên thực tế, Ngân hàng Cục dự trữ liên bang Mỹ ở New York hoàn toàn nắm bắt được toàn bộ hoạt động của Cục này. Cuộc họp gồm 7 vị Chủ tịch của Cục dự trữ liên bang ở Washington chỉ là hình thức, còn hội nghị bí mật thực chất đã được các nhà tài phiệt ngân hàng của châu Âu và ngân hàng Cục dự trữ liên bang Mỹ ở New York tiến hành trước cả tuần lễ. Tuy nhiên, hoạt động nảy chỉ diễn ra ở Washington chưa đến một ngày, lại chỉ là hoạt động mang tính xã giao, vì thế lượng vàng trị giá 500 triệu đô-la Mỹ có được từ quyết sách của hội nghị bí mật New York đã chảy về châu Âu. Một quyết sách quan trọng như vậy mà lại hoàn toàn không được ghi chép trong bất cứ văn bản nào của Washington, từ đó có thể thấy địa vị thực tế của Hội đồng Quản trị 7 người này.

Sau hội nghị bí mật, Ngân hàng Cục dự trữ liên bang ở New York lập tức bắt tay vào hành động, giảm lãi suất từ 4% xuống 3,5%. Chỉ trong năm 1928, họ đã phát hành thêm 60 tỷ đô-la cho các ngân hàng thành viên. Các ngân hàng này dùng trái phiếu của mình để thế chấp. Nếu được hoán đổi sang vàng thì khoản tiền này sẽ nhiều gắp 6 lần tổng lượng vàng lưu thông trên toàn thế giới lúc bấy giờ.

Lượng đô-la phát hành thông qua phương thức này cao gấp 33 lần so với lượng tiền được Cục dự trữ liên bang Mỹ tung ra trước đó. Nhưng điều khiến người ta kinh ngạc hơn là, năm 1929, ngân hàng New York lại phát hành thêm 58 tỷ đô-la cho các ngân hàng thành viên vay.

Thị trường cổ phiếu New York lúc đó cho phép các nhà đầu tư mua vào lượng cổ phiếu bằng 1% vốn, nếu có nhu cầu, họ có thể vay thêm của ngân hàng. Trong khi đang nôn nóng khó chịu thì các ngân hàng nắm giữ tín dụng hạn ngạch lớn lại gặp được nhà đầu tư đói khát tham lam.

Ngân hàng có thể vay tiền từ Cục dự trữ liên bang với lãi xuất 5% và cho các nhà đầu tư chứng khoán vay lại với lãi suất 12%. Như vậy, họ có thể hưởng mức chênh lệch lãi suất 7% một cách ngon lành.

Lúc này, thị trường cổ phiếu New York có muốn không tăng giá cũng không thể được. Người dân Mỹ bị kích động đem hết mọi của cải tích lũy có được để “đầu tư” vào thị trường cổ phiếu. Thậm chí ngay cả các chính trị gia ở Washington cũng bị các trùm tài chính Phố Wall kích động. Trong một buổi nói chuyện chính thức, Melo – bộ trưởng tài chính – đã đảm bảo rằng, thị trường cổ phiếu vẫn chưa quá cao. Tổng thống Coolidge cũng xác nhận rằng, việc mua bán cổ phiếu lúc này vẫn đang rất tốt.

Tháng 3 năm 1928, khi trả lời chất vấn tại thượng nghị viên về mức lãi suất cho vay đối với các nhà đầu tư chứng khoán, Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ đã trả lời rằng: “Không thể nói chính xác các khoản vay của nhà đầu tư chứng khoán có quá cao hay không, nhưng tôi chắc chắn họ là những người cầu toàn và bảo thủ”.

Ngay sau khi Cục dự trữ liên bang bắt đầu loại bỏ chính sách buông lỏng tiền tệ được thực hiện từ năm 1927, ngày 6 tháng 2 năm 1929, Norman – Chủ tịch Ngân hàng Anh đã bí mật đến Mỹ. Các ngân hàng Anh chừng như đã thực hiện xong mọi công tác chuẩn bị cho một sự kiện lớn, và thời cơ để phía Mỹ ra tay cũng đã đến.

Tháng 3 năm 1929, tại đại hội cổ đông thường niên của Ngân hàng Quốc tế, Paul Warburg – bậc thầy tài chính của Mỹ – đã cảnh báo rằng: “Nếu như sự tham lam không kiểm soát được này vẫn tiếp tục thì nguy cơ khủng hoảng nổ ra không chỉ đánh vào bản thân các nhà đầu tư, mà còn khiến cho cả nước Mỹ rơi vào thảm họa suy thoái.”

Paul vốn là người luôn giữ được thái độ trầm tĩnh trong suốt những năm tháng mà “sự tham lam không được kiểm soát” ngự trị, và bây giờ lại đột ngột nhảy ra cảnh báo nguy cơ khủng hoảng. Tờ New York Times lập tức cho đăng bài phát biểu của Paul, và trong tích tắc, bài báo đã gây nên một cơn khủng hoảng trên thị trường tài chính.

Ngày 20 tháng 4 năm 1929, giới tài phiệt ngân hàng ra phán quyết “khai tử” đối với thị trường cổ phiếu. Tờ New York Times ngày hôm đó đã phát đi một thông tin quan trọng:

Ủy ban tư vấn liên bang họp kín tại Washington

Ủy ban tư vấn liên bang đã xây dựng khung nghị quyết và giao cho Hội đồng Quản trị của Cục dự trữ liên bang Mỹ, nhưng mọi thông tin liên quan đến việc này vẫn được giữ kín. Các động thái tiếp theo của Ủy ban tư vấn liên bang và Hội đồng Quản trị Cục dự trữ liên bang vẫn chưa được tiết lộ. Cách thức bảo mật thông tin của lần họp kín này hết sức nghiêm ngặt. Các phóng viên chỉ nhận được những câu trả lời nữa vời.

Ngày 9 tháng 9 năm 1929, Cục dự trữ liên bang Mỹ nâng lãi suất cho vay lên mức 6%. Ngay lập tức, ngân hàng Cục dự trữ liên bang Mỹ tại New York cũng tăng lãi suất cho vay đầu tư chứng khoán từ 5% lên 20%. Các nhà đầu tư chứng khoán chỉ còn có cách bỏ của chạy lấy người. Thị trường cổ phiếu sụt giá một cách thê thảm chẳng khác gì cảnh vỡ để. Trong suốt tháng 10 và 11, khắp các sàn chứng khoán chỉ thấy mỗi lệnh bán. Khối tài sản trị giá 160 tỷ đô-la trong nháy mắt đã tan thành mây khối. Xin lưu ý rằng, 160 tỷ đô-la là một khoản tiền lớn, gần như tương đương với tổng vật tư khổng lồ mà nước Mỹ đã sản xuất được trong thế chiến thứ hai.

Một nhà đầu tư chứng khoán của Phố Wall đã miêu tả vụ “vỡ để” đó như thế này: “Theo một kế hoạch được dàn xếp chính xác, lượng cung ứng cho vay để đầu tư vào cổ phiếu trên thị trường tiền tệ New York đột ngột giảm mạnh đã gây ra cuộc khủng hoảng tài chính năm 1929. Trên thực tế, đây là hành động “xén lông cừu” đã được các trùm tài chính quốc tế tính toán nhắm vào công chúng”.

Đối mặt với nền kinh tế Mỹ ảm đạm, ngày 4 tháng 7 năm 2930, tờ New York Times không khỏi bùi ngùi khi đăng những dòng như thế này: “Giá nguyên vật liệu đã rơi xuống mức năm 1913. Do dư thừa lao động, tiền công sụt giảm mà đã có tổng cộng 4 triệu người thất nghiệp. Vì khống chế được Ngân hàng Cục dự trữ liên bang Mỹ New York và Hội đồng Quản trị Cục dự trữ liên bang nên Morgan đã khống chế được cả hệ thống Cục dự trữ liên bang Mỹ”.

Phố Wall không ngừng áp dụng thủ đoạn tạo ra khủng hoảng tài chính để loại bổ các phần tử đối lập. Từ năm 1930 đến năm 1933, tổng cộng đã có 8.812 ngân hàng phải đóng cửa. Do từng tỏ thái độ bằng vai phải lứa với năm đại gia tài chính ở New York đồng thời không chịu vay nợ từ hệ thống Cục dự trữ liên bang Mỹ nên phần lớn các ngân hàng vừa và nhỏ đã phải nối đuôi nhau phá sản.

Mưu đồ thực sự của việc hoạch định Đại suy thoái

Không còn nghi ngờ gì nữa, cuộc đại suy thoái tài chính năm 1929 là một màn kịch đã được các đại gia ngân hàng đạo diễn tại hội nghị bí mật năm 1927. Do lãi suất trên thị trường New York bị hạ thấp một cách cố ý và lãi xuất trên thị trường London bị nâng cao một cách có lợi nên sự chênh lệch lãi xuất giữa hai thị trường đã khiến cho dòng vàng của Mỹ chảy về Anh, giúp Anh và các quốc gia châu Âu khác khôi phục chế độ bản vị vàng.

Trên thực tế, các nhà tài chính châu Âu đã hiểu rõ rằng, việc tạo ra lạm phát tiền tệ nhằm trước đoạt tài sản sẽ mang lại hiệu quả cao hơn rất nhiều so với việc phát hành tiền tệ và cho phép hoán đổi tiền giấy sang vàng sẽ có thể khống chế các ngân hàng tạo ra nạn lạm phát tiền tệ để kiếm lợi. Vậy tại sao giới tài chính châu Âu mà đại diện là các nhà ngân hàng Anh lại muốn khôi phục bản vị vàng?

Câu trả lời là các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế đang chơi một ván cờ thú vị.

Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất kết thúc với thất bại của Đức. Số tiền bồi thường chiến tranh khổng lồ đương nhiên không thể do dòng họ Rothschild và dòng họ Warburg của nước Đức gánh vác. Nước cờ đầu tiên mà cả hai dòng họ này thực hiện là khởi động bộ máy tạo ra nạn làm phát tiền tệ để từ đó vơ vét tài sản tích lũy của người dân. Và như vậy, nhân loại đã hiểu biết được uy lực siêu cấp của nạn lạm phát tiền tệ.

Trong thời kỳ chiến tranh từ năm 1913 đến năm 1918, tốc độ phát hành tiền tệ của Đức đã tăng gắp 8,5 lần, đồng mác Đức đã sụt giá đến 50% so với đồng đô-la Mỹ. Bắt đầu từ năm 1921, tốc độ phát hành tiền tệ của Ngân hàng Trung ương Đúc đã tăng phi mã, năm 1921 tăng gấp 5 lần so với năm 1918, năm 1922 tăng 10 lần so với năm 1921, năm 1923 tăng vô vàn lần so với năm 1922. Từ tháng 8 năm 1923, vật giá leo thang chống mặt, một chiếc banh mì hay một phong thư đã có giá 1000 mác. Mỗi ngày, một công nhân Đức được trả tiền công hai lần nhưng số tiền ấy “bốc hơi” nhanh chống chỉ sau một giờ.

Chính vì hành vi chèn ép tầng lớp trung lưu trong xã hội khiến họ trở nên trắng tay mà các nhà tài phiệt ngân hàng Đức đã gieo vào lòng người dân sự câm phẫn tột độ đồng thời tạo ra cơ sở cho Đảng phát xít lên nắm quyền sau này. So với cảnh ngộ của nước Pháp sau khi bại trận trong cuộc chiến Phổ – Pháp năm 1870 thì những khó khăn bi thảm mà người dân Đức phải gánh chịu còn nặng nề hơn rất nhiều. Có thể thấy rằng, mầm mống của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đã nảy nầm từ năm 1923.

Khi tài sản của người Đức bị vơ vét cạn kiệt thì đồng mác Đức phải được ổn định trở lại. Dưới sự điều phối của các nhà ngân hàng quốc tế, vàng bạc của nước Mỹ trở thành chiếc phao cứu sinh cho việc ổn định tiền tệ tại Đức.

Nước cờ tiếp theo do các nhà tài phiệt ngân hàng Anh tiến hành. Sau khi Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất bùng nổ năm 1914, tàu ngầm Đức nhiều lần tập kích vào Đại Tây Dương, tàu vận chuyển vàng của Anh không thể nào tự do xuất cảng. Các nhà tài phiệt ngân hàng Anh buộc phải tuyên bố tạm thời ngừng chuyển đổi vàng, và như vậy, bản vị vàng của đồng bảng Anh đã trên nên hữu danh vô thực.

Năm 1924, Churchill nhậm chức Bộ trưởng Tài chính Anh. Vì không phải là chuyên gia trong lĩnh vực tài chính nên Churchill đã không nhận ra âm mưu khôi phục bản vị vàng của các nhà ngân hàng – những người cứ khăng khăng cho rằng cần phải bảo vệ vị thế tuyệt đối của đồng bảng Anh trên thị trường tài chính thế giới. Ngày 13 tháng 5 năm 1925, Anh thông qua Dự luật Bản vị Vàng (Gold Standard Act). Lúc này, do trải qua những mất mát nặng nề của chiến tranh nên thực lực kinh tế của Anh không còn mạnh so với Mỹ. Thậm chí ngay tại châu Âu, Anh cũng không còn giữ được vị thế nước lớn, vì thế việc ép buộc khôi phục bản vị vàng sẽ khiến đồng bảng Anh tăng giá và tác động nghiệm trọng đến sức cạnh tranh xuất khẩu của Anh đồng thời gây ra hậu quả xấu về kinh tế như giá nguyên liệu thấp, tiền lương giảm đi, tỉ lệ thất nghiệp tăng cao.

Lúc này, Keynes – một bậc tinh anh quyền quý từng là đại diện của Bộ Tài chính Anh tại hội nghị hòa bình Paris năm 1919 – kiên quyết phản đối những điều khoản khắc nghiệt áp dụng cho nước Đức, thậm chí sẵn sàng tư chức để tỏ rõ sự bất đồng với các thế lực ngân hàng London. Tại Ủy ban Macmillan chuyên về điều tra tính khả thi của bản vị vàng, Keynes đã khẳng khái trình bày về tác hại của bản vị vàng. Và theo cách nhìn của ông thì vàng chỉ là “di tích dã man”, là rào cản đối với sự phát triển của nền kinh tế. Trong khi đó, Norman – Chủ tịch Ngân hàng Anh – lại cho rằng bản vị vàng là thứ không thể thiếu đối với các ngân hàng chân chính. Theo Norman thì cho dù gánh nặng của nước Anh có như thế nào, các ngành nghề chịu tổn thất nghiệm trong ra sao, mọi người cũng phải chấp nhận chế độ bản vị vàng để thể hiện danh dự hàng đầu của các nhà tài phiệt ngân hàng London. Người dân Anh bị gọi là những kẻ hồ đồ. Và cũng giống tình hình ở Mỹ, hình ảnh của các nhà ngân hàng Anh cũng không được đánh giá tốt đẹp gì trong mắt người dân. Theo họ, những gì mã các nhà ngân hàng ủng hộ tất nhiên đều không tốt đẹp gì, còn những ai dám phê phán mãnh mẽ quan điểm của các nhà ngân hàng sẽ giành được sự mếm mộ của dân chúng.

Đây mới là phần đặc sắc nhất của vở kịch.

Với lai lịch rất đơn giản, Keynes đã diễn xuất rất tốt vai “vệ sĩ” của nhân dân, trong khi các nhà ngân hàng thì xuất hiện với tư cách là tín đồ của vàng. Một màn kịch thật thú vị với kẻ tung người hứng nhịp nhàng, cũng vì thế mà dự luận và lòng dân bị thao túng một cách dễ dàng.

Quả nhiên, mọi việc không nằm ngoài dự đoán của Keynes cũng như các nhà tài phiệt ngân hàng Anh. Sau khi khôi phục bản vị vàng, nền kinh tế Anh đã tuột dốc không phanh, tỉ lệ thất nghiệp từ 3% năm 1920 đã tăng vọt lên 18% vào năm 1926. Các cuộc bãi công diễn ra khắp nơi trên nước Anh, chính trị rơi vào cảnh hỗn loạn, chính phủ Anh đối mặt với nguy cơ khủng hoảng nghiệm trọng.

Tuy nhiên, xin nhớ rằng, điều mà các nhà tài phiệt ngân hàng luôn khát khao mong mỏi chính là khủng hoảng. Chỉ khi nào tạo nên khủng hoảng thì các nhà tài phiệt ngân hàng mới có thể thúc đẩy cuộc “cách mạng tài chính” theo ý đồ của họ. Năm 1928, thông qua Dự luật Tiền tệ và Giấy bạc Ngân hàng (Currency and Bank Notes Act), nghị viên Anh đã tháo gỡ những rằng buộc về giới hạn trong việc dùng công trái để đả bảo cho đồng bảng Anh – một hình thức xiềng xích trói buộc các nhà ngân hàng Anh suốt 84 năm. Năm 1844, nước Anh ban hành pháp lệnh nhằm hạn chế các ngân hàng trong việc phát hành 29,75 triệu bảng Anh được đảm bảo bằng công trái. Bên cạnh đó, các nhà ngân hàng phải dùng vàng để đảm bảo cho việc phát hành tiền giấy. Cũng giống như sự xuất hiện của Cục dự trữ liên bang Mỹ, việc dùng công trái làm thế chấp trong phát hành tiền tệ thật sự là một giấc mộng đẹp đối với các nhà ngân hàng Anh. Chỉ trong mấy tuần sau khi pháp lệnh mới được thông qua, Ngân hàng Anh đã phát hành 260 triệu bảng bằng công trái. Pháp lệnh mới còn trao quyền phát hành công trái không giới hạn cho ngân hàng Anh trong những tình huống khẩn cấp, miễn sao sau đó được Bộ Tài chính và Quốc hội chấp thuận. Và như vậy, quyền phát hành tiền không hạn chế của Cục dự trữ liên bang Mỹ cuối cùng cũng nằm trong tay Ngân hàng Anh.

Nước cờ thứ ba là các nhà ngân hàng thực hiện là hành động “xén lông cừu”. Sau hội nghị bí mật năm 1927, do chính sách hạ lãi xuất của Cục dự trữ liên bang Mỹ nên một lượng vàng khá lớn của Mỹ trị giá 500 triệu đô-la đã chảy ra nước ngoài. Năm 1929, Cục dự trữ liên bang lại tiếp tục nâng lãi suất khiến cho các ngân hàng thiếu vàng nghiêm trọng và không thể thực hiện dịch vụ cho vay. Người dân Mỹ cũng vì thế mà trở nên khốn đốn. Các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế đã thi nhau dốc vốn thu mua một lượng lớn cổ phiếu tốt với giá rẽ như bèo. Nghị sĩ McFadden đã miêu tả thế này: “Mới đây, chỉ nội trong một bang đã có tới 60.000 ngôi nhà và nông trường bị phát mãi trong một ngày. Ở quận Auckland thuộc bang Michigan có 71.000 chủ nhà và chủ trang trại bị tống ra khỏi cửa. Những tình cảnh tương tự đang diễn ra ở từng bang của nước Mỹ.”

Trong cơn đại nạn kinh tế chưa từng thấy này, chỉ có một ít người thuộc tầng lớp thượng lưu có mối quan hệ mật thiệt với dòng họ Rothschild mới biết được diễn biến của màn kịch lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ. Những người này đã nhanh tay bán tháo tất cả cổ phiếu mình có để tập trung đầu cơ công trái chính phủ. Những kẻ không có dính dáng gì tới các ông trùm ngân hàng, cho dù có giàu sang đến mấy cũng không thể tránh được tai họa. Những công ty có dính dáng đến các ông trùm tài chính bao gồm J.P Morgan và Kuhn Loeb, ngoài ra cũng còn có một số “khách hàng ưu tiên cánh hẩu”, một số chính trị gia quan trọng mà các nhà ngân hàng muốn duy trì mối quan hệ hữu hảo hoặc những nhà cầm quyền của các quốc gia có mối quan hệ tốt với họ.

Khi Mirrison từ chức tại Cục dự trữ liên bang Mỹ, trên tờ Newsweek số ra ngày 30 tháng 5 năm 1936 đã xuất hiện những dòng bình luận như sau: “Người ta cho rằng, Cục dự trữ liên bang Mỹ đã mất đi một nhân vật tài năng, Năm 1929 (trước khi thị trường cổ phiếu lâm vào khủng hoảng), Morrison đã triệu tập một hội nghị và ra lệnh cho các ngân hàng trong hệ thống của ông phải chấm dứt cho vay đầu tư chứng khoán trước ngày 1 tháng 9. Vì thế, các doanh nhân này mới dễ dàng phát đạt trong cơn suy thoái sau này.”

Tài sản của Joe Kennendy đã tăng từ 4 triệu đô-la vào năm 1929 lên đến 100 triệu đô-la vào năm 1935, nghĩa là gắp 25 lần. Trước khi cuộc khủng hoảng xảy ra, Bernard Baruch đã bán sạch cổ phiếu vốn có của mình để đầu tư vào công trái. Vài này trước “thứ Ba đen tối” (Ngày 29 tháng 10 năm 1929), Henry Morgenthau đã tới ngân hàng và ra lệnh cho công ty của ông trong vòng ba ngày phải bán hết lượng cổ phiếu giá 60 triệu đô-la Mỹ. Các nhân viên dưới quyền của Henry cảm thấy khó hiểu và khuyên ông nên bán dần trong mấy tuần. Nhưng Henry liền nổi cáu quát ngay vào mặt nhân viên mình rằng: “Tôi đến đây không phải để tranh luận với anh. Hãy làm theo lệnh tôi đi!”

Sau gần 80 năm, khi nhìn lại giai đoạn lịch sử này, chúng ta vẫn phải thán phục mưu trí thương trường của các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế. Thậm chí cho đến ngày nay, không ít người vẫn còn chưa tin rằng, số phận của họ đã bị các nhà tài phiệt ngân hàng này thao túng.

Sau mùa bội thu từ vụ “xén lông cừu” của các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế, “tư tưởng tiền tệ giá rẻ” của Keynes đã trở thành cỗ máy tạo ra sự giàu có cho các đại gia ngân hàng.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s